QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

Bài cùng tác giả

- Giản giới tục thờ Ngũ hành thần nữ ở Khánh Hòa - Đỗ Văn Khoái

 

 

 

 

ĐÌNH - LĂNG BÌNH TÂY Ở NINH HẢI, NINH HÒA

Đỗ Văn Khoái

Bên cạnh những công trình thờ tự khác nơi làng xã như đình thờ Bổn cảnh Thành Hoàng, chùa thờ Phật và miếu để thờ các thần linh, lăng Ông Nam Hải[1] hoặc có nơi gọi tắt là lăng Ông có kiến trúc độc lập và thờ tự riêng. Đối với thôn Bình Tây ở Ninh Hòa, người dân đã lấy tên làng đặt tên cho lăng cùng ngôi đình Bình Tây hiện tại với những biến đổi hợp nhất công phu.

Theo truyền ngôn của các cụ hào lão, lăng Bình Tây có từ rất sớm. Căn cứ vào đạo Sắc phong có niên đại sớm nhất phong cho thần Nam Hải vào năm thứ 3, niên hiệu vua Minh Mệnh (1822) còn lưu giữ được thì hẳn là lăng phải được xây dựng trong khoảng thời gian trước đó. Cũng dựa vào niên đại trên dòng lạc khoản của bức hoành phi khắc 3 chữ Hán lớn: 平 西 亭 (Bình Tây đìnhĐình Bình Tây) còn treo tại đình, thì đình được kiến tạo vào ngày lành 28 tháng Giêng, năm thứ 14, năm Nhâm Dần niên hiệu vua Thành Thái (tức là năm 1902) 成 泰 十 四 年 歲 次 壬 寅 正 月 二 十 八 吉 日 建 造. Như vậy là đình và lăng được xây dựng độc lập và lăng được xây dựng sớm hơn nhiều so với đình.

Cũng theo các cụ hào lão trong thôn kể lại thì năm 1950, thực dân Pháp chiếm Đình Bình Tây làm đồn trú. Trong thời gian đó, đình không còn được sử dụng để thờ phụng nữa. Năm 1951, các cụ hào lão đã làm lễ rước vị thần ở đình về thờ phụng chung tại lăng. Do vậy có tên gọi chung là đình - lăng Bình Tây như hiện tại. Vậy là cùng một công trình, ngày nay đình lăng Bình Tây vừa là nơi để thờ Ông Nam Hải, cũng là nơi để tế tự Bổn cảnh Thành Hoàng.

Về thời điểm xuất hiện tên thôn Bình Tây, hiện còn ít tư liệu để khảo chứng. Tác giả Nguyễn Đình Đầu trong cuốn Địa bạ triều Nguyễn tỉnh Khánh Hòa, mục Danh sách các làng bị mất địa bạ có nhắc đến thôn Tây An mà sau này dựa vào tư liệu sắc phong tại đình lăng Bình Tây, chúng tôi thấy đó chính là thôn Bình Tây sau này. Thật may mắn là đình lăng Bình Tây còn lưu giữ đầy đủ sắc phong của các đời vua triều Nguyễn ban tặng cho các thần. Đây là tư liệu hành chính thể hiện tính chính thống của triều đình, có giá trị sử liệu và có tính pháp lý cao trong việc giám định niên hiệu, niên đại, tên thần và đặc biệt là tên làng xã qua các thời kỳ. Dựa vào các đạo Sắc phong hiện còn[2], thôn Bình Tây hiện nay có các mốc gọi tên như sau:

Năm Minh Mệnh thứ 3 (1822), có tên là thôn Tây An, thuộc Hà Bạc. Năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), tháng tám, ngày mười ba, thôn An Tây, huyện Quảng Phước. Năm Tự Đức thứ 33 (1880), thôn Bình Tây, huyện Quảng Phước. Năm Khải Định thứ 9 (1924), thôn Bình Tây, tổng Phước Hà Ngoại, phủ Ninh Hòa. Hiện tại là thôn Bình Tây 2, xã Ninh Hải, thị xã Ninh Hòa.

Nhìn vào tổng thể, Đình Lăng Bình Tây có đầy đủ các hạng mục kiến trúc như những ngôi đình khác ở khu vực Ninh Hòa: Nghi môn, Án phong, Võ ca, Tiền tế, Hậu điện. Đình lăng Bình Tây được xây dựng theo một trục dọc, mặt tiền hướng ra biển, lưng dựa vào núi, thể hiện được tư thế vững chãi, oai nghiêm.

Nghi môn được thiết kế tứ trụ, tạo ra ba lối đi. Trong đó, lối đi rộng ở chính giữa là làm cổng chính, còn lại hai cổng phụ nhỏ ở hai bên. Phần trên Nghi môn có mái cong, ngói làm bằng xi măng kiểu ngói ống, đắp nổi rồng, mây. Trên các trụ cột có các câu đối Hán Nôm. Tiếp đến là hạng mục Án phong được xây dựng vuông phẳng hình chữ nhật, trên đó có trang trí hình long mã đội hà đồ, phía trên có đắp mặt hổ phù và một số hoa văn cách điệu.

Qua Nghi môn, Án Phong là vào đến Võ ca. Võ ca là nơi biểu diễn hát Bội chầu Thần, các tích tuồng cổ và cũng là nơi để diễn xướng Hò Bá trạo mỗi khi tổ chức lễ Cầu ngư. Không phải năm nào lễ hội cúng đình cũng tổ chức hát Bội, mà thường ba năm đáo lệ một lần. Hát Bội trong lễ hội cũng là nét văn hóa rất đặc trưng: vừa thể hiện được nguyện vọng của con người đối với các bậc thần linh vừa là hình thức giải trí nghệ thuật đối với nhân dân trong vùng sau chuỗi ngày lao động mệt mỏi.

Tiền tế được thiết kế ba gian đều nhau theo kết cấu khung gỗ truyền thống của người dân địa phương với hai vì kèo liên kết với nhau bởi hệ thống cột cái, những thanh quá giang, thanh xiên, câu đầu, trụ, đấu, thượng lương… và hệ thống tường hồi bít đốc tạo thành bộ khung vững chắc đỡ lấy toàn bộ hệ mái. Các cột cái trong Tiền tế được đắp phù điêu bằng xi măng với những đề tài rồng mây uốn lượn. Kết cấu gỗ được làm đơn giản, không cầu kì nhưng đảm bảo chắc chắn và có độ chịu lực cao. Trên mái có đắp đôi rồng chầu bình rượu. Hai bên tường hồi có đắp hình mặt hổ phù oai nghiêm. Tiền tế là nơi bày các lễ vật, cũng là không gian để các quan viên tế làm nhiệm vụ tế thần vào mỗi dịp xuân kỳ thu tế.

Qua Tiền tế là vào đến Hậu điện. Hậu điện có kiến trúc đơn giản theo hình chuôi vồ nằm sâu phía trong. Nội thất Hậu điện có bài trí Long đình thờ Thần bằng gỗ, có chạm trổ hoa văn và câu đối. Trong Long đình có khắc chữ (Thần) bằng chữ Hán rất đẹp. Phía trong cùng của Hậu điện là ban thờ Ông Nam Hải. Ban thờ Ông Nam Hải được xây bằng gạch vữa xi măng thông thường. Trên ban thờ có sơn vẽ các đề tài rồng chầu mặt nguyệt, dơi ngũ phúc, kỳ lân, hoa lá, vân mây với màu sắc hài hòa trang nhã. Chính giữa ban thờ Ông Nam Hải có viết hai chữ Hán 南 海 (NAM HẢI) màu đen. Hai bên có hai đôi câu đối, trong đó có đôi ca ngợi công đức của thần Nam Hải:

慈 航 頒 福 德

濟 度 救 群 生

Từ hàng ban phước đức,

Tế độ cứu quần sinh.

Ngoài ra, trong khuôn viên đình - lăng Bình Tây còn được bài trí những ngôi miếu nhỏ và các thổ kỳ để thờ các thần linh khác trong Bản cảnh gồm: thổ kỳ thờ Thần Nông[3], miếu thờ Thánh Nương[4], miếu thờ Thủy Long[5], thổ kỳ thờ Công Chúa, miếu thờ Tiền Hiền. Qua hệ thống các thần được thờ và phối thờ tại đình đã cho thấy không gian nơi đây đậm đặc chất văn hóa xứ biển.

Đặc biệt, đình lăng Bình Tây còn lưu giữ được 09 đạo Sắc phong của các vị vua triều Nguyễn phong tặng cho các thần từ triều vua Minh Mệnh đến triều vua Khải Định[6]. Đây là bảo vật quý giá của ngôi đình nói riêng và cư dân trong vùng nói chung. Nội dung của các sắc phong không những thể hiện được tính chính thống trong phong tục thờ Thần vùng ven biển mà còn thấy được lịch sử của việc hình thành làng xã qua các niên đại cụ thể. Cũng từ đó, ta thấy được sự trân trọng trong việc gìn giữ di sản của người dân địa phương đã được tiếp nối từ nhiều đời.

Hiện tại Đình Lăng Bình Tây còn lưu giữ được khá nhiều các tư liệu Hán Nôm có giá trị như các hoành phi, câu đối, sắc phong, văn tế:

Câu đối thờ thần Nam Hải:

春 禴 秋 嘗 彰 聖 德

民 康 物 阜 仰 神 恩

Phiên âm:

Xuân dược thu thường chương thánh đức,

Dân khang vật phụ ngưỡng thần ân.

Dịch nghĩa:

Xuân thu tế tự báo đức thánh,

Dân, vật tốt tươi kính ơn thần.

Câu đối thờ Tiền hiền:

平 坦 著 前 功 開 拓 基 圖 增 鞏 固

西 彰 至 德 大 扶 持 村 邑 永 安 康

Phiên âm:

Bình thản trứ tiền công khai thác cơ đồ tăng củng cố,

Tây chương chí đức đại  phù trì thôn ấp vĩnh an khang.

Dịch nghĩa:

Bình - rạng rỡ công lao, khai thác cơ đồ thêm vững chắc,

Tây - tỏa ngời đức lớn, phò trì thôn ấp mãi an khang.

前 世 惟 忠 惟 孝

後 人 克 儉 克 勤

Phiên âm:

Tiền thế duy trung duy hiếu,

Hậu nhân khắc kiệm khắc cần.

Dịch nghĩa:

Đời trước chỉ trung chỉ hiếu,

Đời sau năng kiệm năng cần.

Có thể nói đình lăng Bình Tây là cơ sở tín ngưỡng của cư dân trong vùng, thể hiện được tập trung và khá toàn diện trong nghi thức thờ tự ở đình làng đặc biệt là tại các đình vùng ven biển. Đồng thời, đây cũng là nơi để nhân dân bày tỏ tấm lòng thành kính của mình đối với các vị thần linh đã có công bảo vệ và giúp đỡ xóm làng được mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt.

Hàng năm, nhân dân địa phương tổ chức lễ hội cúng đình - lăng vào mùa xuân, nhằm ngày 11 đến ngày 12 tháng hai âm lịch. Trong lễ hội có các nghi thức rước sắc, tế thần, tế Ông Nam Hải, tế Tiền hiền và tế Tống khách. Cũng trong thời gian diễn ra lễ hội, cứ ba năm lại đáo lệ hát Bội một lần, ngoài ra còn tổ chức các trò chơi dân gian như: kéo co, bơi thúng, bơi bộ, lắc thúng, chèo thuyền mang đậm nét văn hóa xứ biển.

Với những giá trị tiêu biểu của ngôi đình trong vùng, Đình Lăng Bình Tây đã được UBND tỉnh Khánh Hòa ra quyết định công nhận xếp hạng di tích cấp tỉnh, thuộc loại hình Di tích Kiến trúc nghệ thuật, năm 2010./.


 

[1] Nam Hải hay Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân là tước hiệu của cá voi (cá ông, ông Nam Hải) được vua Gia Long và các vua triều Nguyễn phong tặng.

[2] Nội dung các hoành phi, câu đối trong bài do tác giả phiên âm, dịch nghĩa và chú thích.

[3] Thần Nông: , còn được gọi là Viêm Đế ( ) hay Ngũ Cốc Tiên Đế, là một vị vua huyền thoại của các dân tộc chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Hoa. Theo truyền thuyết, Thần Nông sống cách đây khoảng 5.000 năm và là người đã dạy dân nghề làm ruộng, chế ra cày bừa và là người đầu tiên đã làm lễ Lễ Tịch Điền (còn gọi là lễ Thượng Điền, tổ chức sau khi gặt hái, thu hoạch mùa màng) hoặc Hạ Điền (lễ tổ chức trước khi gieo trồng), cũng như nghề làm thuốc trị bệnh, cho nên trong dân gian có câu Thần Nông giáo dân nghệ ngũ cốc (tức Thần Nông dạy dân trồng ngũ cốc).

[4] Thánh Nương: hay Đại càn quốc gia Nam hải tứ vị thánh nương, là 04 vị thần có thần tích rõ ràng và được thờ tự tại chủ yếu tại các vùng ven biển. Ở Khánh Hòa nhiều di tích thờ Đại càn quốc gia Nam hải tứ vị thánh nương có sắc phong của các vua triều Nguyễn phong tặng.

[5] Thủy Long thần nữ: là một vị thủy thần, ở Khánh Hòa có nhiều nơi thờ và có một vài di tích có sắc phong ban tặng.

[6] Trong 09 đạo sắc phong có 08 đạo sắc phong cho thần Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân, và 01 đạo sắc phong cho thần Thành Hoàng bổn cảnh.

Đỗ Văn Khoái