QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

MỘT BẢO VẬT QUỐC GIA TẠI TỈNH KHÁNH HÒA :

TẤM BIA VÕ CẠNH

Ngô Văn Ban

Năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 2599/QĐ-TTg ngày 30/12/2013 công nhận Bảo vật quốc gia (đợt 2) cho các hiện vật, nhóm hiện vật hiện đang được lưu giữ tại các bảo tàng và các di tích lịch sử văn hóa trong cả nước. Trong tổng số 37 Bảo vật được công nhận đợt 2 có TẤM BIA VÕ CẠNH, được phát hiện tại thôn Võ Cạnh, xã Vĩnh Trung, thành phố Nha Trang hiện nay. Tấm bia hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia tại Hà Nội, trong một nhà kho được xây dựng riêng để chứa tấm bia, dưới chân một cây đa đại thụ, nhằm tránh cho nắng mưa không thể hủy hoại thêm bảo vật này.

Trong một bài viết có nhan đề là Bài minh Võ Cạnh, tác giả người Pháp Finjozart đã cho ta biết rằng bài minh viết bằng chữ Phạn. Bài minh này, lần đầu tiên được ông Bergesigne nêu lên với cái tên là Bài minh ở Nha Trang. Theo ông Finjozart, bài minh này được khắc trên tấm bia được phát hiện ở vùng Nha Trang tại làng Võ Cạnh, hay nói một cách khác thật đúng như ông Finot, người đã phát hiện tấm văn bia này, nó ở cạnh làng nằm giữa hai địa phương Phó VânPhú Vinh, thuộc tổng Xương Hà, huyện Vĩnh Xương, tỉnh Khánh Hòa. Đó là ngày 19-12-1922, nhà khảo cổ người Pháp Finot đã khai quật tại một địa điểm bên cạnh một di tích đổ nát và tìm thấy một tấm bia. Năm 1923, một nhà khảo cổ người Pháp khác, ông Parmentier đã ghi thêm một số xác nhận, cho biết rõ hơn về vị trí tìm thấy tấm bia: “Ở tỉnh Khánh Hòa, trong một cuộc điều tra mới, chúng tôi thấy bia Võ Cạnh thường được truyền tụng đã được nhìn thấy nằm bẹp ở rìa phía nam một đồi nhỏ của người Chàm cũ, nói một cách chung là nằm về phía đông của nhà thờ đạo”.

Xét địa thế hiện nay phía đông của nhà thờ đạo thì nhà thờ đạo đây là Nhà thờ Bình Cang của Họ Đạo Võ Cang, với ngôi nhà thờ xây dựng vào thế kỷ thứ 17, nay thuộc thôn Võ Cang (trước đây là thôn Võ Cạnh), xã Vĩnh Trung, thành phố Nha Trang  Phía Đông nhà thờ vài trăm mét hiện nay là ranh giới của hai thôn: thôn Võ Cang thuộc xã Vĩnh Trung và thôn Phú Bình thuộc xã Vĩnh Thạnh thuộc thành phố Nha Trang. Còn thôn Phú Vinh thuộc xã Vĩnh Thạnh hiện nay nằm giáp giới với thôn Phú Bình. Chắc ngày trước, thôn Phú Bình này có tên là Phó Vân. Tấm bia, sau đó, được đưa về nhà thờ đạo Thiên Chúa, thuộc thôn Võ Cạnh để nghiên cứu nên có thể được gọi là Bia Võ Cạnh. Tấm bia được mang về lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Hà Nội và một phiên bản được dựng trước Nhà Bảo tàng tỉnh Khánh Hòa, đường Trần Phú, thành phố Nha Trang.

Tấm bia được cấu tạo bằng đá hoa cương, là một khối đá to lớn hình trụ đứng, có kích thước cao cao tới 2,7m, dày 1,1m  x  0,8m, chữ khắc trên bia là chữ Phạn. Chữ khắc trên bia đa số bị mòn, mờ, có đoạn  mất cả chữ. Tại chỗ, đoàn khai quật còn tìm thấy nhiều viên gạch có kích thước lớn: 0,18 m x 0,35 m x 0,08 m, chứng tỏ ở đây có một di tích cổ đã đổ nát. Theo tài liệu lưu trữ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, bia đá Võ Cạnh được Viện Viễn Đông Bác Cổ đưa về vào năm 1910, đăng ký với số hiệu B2.1; C.40.

Nội dung tấm bia đã được lược ý như sau: Ý tưởng về sự ổn định, đến rồi đi, ở thế giới này, lòng khoan dung đối với con người, sự hy sinh vì lợi ích của người khác, tất cả những nét đó làm nổi bật sự phóng khoáng ở Sri Mara, xuất phát từ một thần cảm Phật giáo rõ nét, khiến người ta thoát khỏi ý nghĩ rằng vị thủ lĩnh này rao giảng học thuyết về sự khoan dung độ lượng. Những vị thủ lĩnh Braman đã làm rất nhiều cho những khu đền. Họ không bao giờ có những suy nghĩ đã chu cấp đầy đủ nhu cầu cho gia đình họ. Thừa nhận việc sở hữu số dư thừa trong tài sản của con người nói chung. Tinh thần của Acoka đã trở lại như trong chỉ dụ này. Nó cũng không tồn tại đến thời kỳ ban bố trước hội đồng trong những đêm trăng tròn, đây là một trong hai lễ hội hằng tháng của tín đồ Phật giáo.

Nội dung này được xuất bản sau 85 năm bia Võ Cạnh được phát hiện, dựa trên ghi chép của Finot - người đã quan tâm và triển khai rộng việc nghiên cứu và sưu tầm các di tích và di vật của văn hóa Chămpa.

Bài minh Võ Cạnh đã cho biết nhiều thông tin có giá trị về lịch sử Vương triều Tiên vương quốc Nam Chăm. Sri Mara là người đã sáng lập triều đại đầu tiên của Tiểu vương quốc Nam Chăm, thủ phủ đóng tại vùng Panduranga (vùng Phan Rang ngày nay), còn kinh đô của Tiểu vương quốc Bắc Chăm (theo sử Trung Hoa còn gọi là Lâm Ấp) đóng ở Simhapura - vùng Trà Kiệu thuộc huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam ngày nay.

Sau đó, vào khoảng thế kỷ VI, hai tiểu vương quốc này hợp nhất thành Vương quốc Chămpa (Simhapura được chọn làm kinh đô). Minh văn còn cho biết sự du nhập và ảnh hưởng mạnh mẽ của Phật giáo trong nền văn minh Ấn Độ vào cư dân Chăm khá sớm (khoảng thế kỷ I SCN) và giới tăng lữ tiểu vương quốc này.

Ngoài việc là một bằng chứng của Vương quốc Chămpa thời đầu dựng nước, khối bia Võ Cạnh còn là vật chứng cổ nhất Đông Nam Á nói về sự du nhập của Phật giáo, ngay từ ngày ấy, đã thâm nhập sang đến tận vùng ven biển phía đông của xứ Đông Dương.

Và tỉnh Khánh Hòa - thành phố Nha Trang rất vinh dự có một bảo vật Quốc gia này.

BẢN DỊCH TẤM BIA VÕ CẠNH

Bản dịch này trích trong “SỬ LIỆU PHÙ NAM” của LÊ HƯƠNG (Nguyễn Nhiều xb, Sài Gòn, 1974, trang 48-50). Trước khi đi vào bản văn dịch tấm bia, tác giả cuốn sách cho biết “Toàn thể bản văn rất khó đọc, chỉ có 8 câu chót có thể hiểu được từng đoạn“:

“ ...lòng trắc ẩn đối với muôi loài ... trận chiến thắng thứ nhất ... Ngày trăng tròn, Người tuyên bố trong buổi họp theo vị Quốc vương ưu tú của tất cả Quốc Vương rằng “ta muốn (bá quan) uống giọt nước thánh của lời nhà vua phán !”. Người ... thuộc dòng của Sri Mara, người được danh dự cùng huyết thống với (vua) Sri Mara đã tuyên bố giữa (buổi họp) những kẻ ấy, lời nói đầy hảo ý đối với muôn loài. Người là bậc ưu tú nhất của hai “Karin” khi ngự trên ngai vàng, Người xem xét tình trạng bất an của thế giới, mà rằng: Khi con trẫm và em trẫm cùng người nào khác được thỏa mãn ý muốn chiếm tài sản làm của riêng ... những gì (tạo thành) kho tàng của trẫm, bạc, vàng, những vật hay dời đổi và bất động, tất cả món ấy, trẫm cũng hiến cho họ với niềm vui sướng và sự lợi ích (cho muôn loài). Đây là lệnh của trẫm. Cũng phải biết bề tôi của trẫm tên Vira ...”.

NVB