QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

 

 

NGƯỜI ĐÀN BÀ NINH HÒA XƯA

ĐI CHỢMƯU SINH Ở CHỢ

Theo quan niệm xưa của người dân Ninh Hòa, hầu như chỉ có đàn bà con gái là đi chợ và bán hàng mưu sinh tại chợ, còn gọi là chạy chợ. Đi chợ là đến chợ mua thức ăn, vật dụng về nhà lo bữa cơm, việc nhà. Còn chạy chợ là buôn bán lớn hay nhỏ ở chợ để mưu sinh, nuôi gia đình, như bà Tú Xương: Quanh năm buôn bán ở mom sông/Nuôi đủ năm con với một chồng ... Người đàn ông trong xã hội xưa không tham gia công việc này. Lễ giáo phong kiến coi người đàn ông quan trọng trong gia đình. Họ có nhiệm vụ học hành, mai sau thi đỗ ra làm quan. Nếu không, họ làm nông, làm nghề thì lo việc làm nông, làm nghề, lo việc xóm làng, dòng họ ..., việc “nội trợ” là việc của đàn bà. Việc tề gia nội trợ, nuôi con, tham gia đồng áng, đi chợ nấu ăn, bán buôn và kể cả việc kiếm tiền nuôi gia đình đã đặt lên vai người đàn bà những nhiệm vụ thật nặng nề. Người đàn ông sống miệt quê ở Ninh Hòa ít ai tham gia việc buôn bán, chạy chợ. Nếu trong gia đình vợ hay con gái ngày ngày chạy chợ để kiếm sống thì họ cũng giúp một tay, như gánh hàng ra chợ, chèo thuyền chở hàng, giã gạo nếu vợ làm hàng xáo, dọn dẹp hàng, đi bỏ mối hàng ... là những công việc cần sức lực của người đàn ông thì họ mới làm.

Ngày xưa, việc buôn bán nhỏ là phổ biến. Hàng hóa, phần nhiều là nông sản, ít thì đựng trong rổ, cái mẹt để bưng, nhiều thì đặt trong hai cái thúng dùng gióng gánh gánh gồng ra chợ. Kiểu buôn bán nhỏ, buôn gánh bán bưng, buôn thúng bán mẹt. Nay buôn bờ sông, mai bán góc chợ, lúc buôn chợ sáng, khi bán chợ chiều hay buôn chiều hôm, bán sớm mai ..., kiểu buôn bán của những người ít vốn.

Người đàn bà chạy chợ ở vùng quê Ninh Hòa ngày nào cũng phải gánh gồng hay bưng rổ đựng hàng hóa ra chợ. Nếu hàng hóa nhiều, nặng thì nhờ chồng gánh, nhưng ra tới chợ thì người chồng ra về. Hay nếu chuyên chở hàng hóa ra chợ bằng thuyền thì người đan ông chỉ làm công việc là chèo thuyền cho đến bến chợ. Khi chợ tan, có người chồng đến dọn dẹp rồi chở hàng về. Có người chồng không vào chợ bán buôn, chỉ thì chạy ngoài để bỏ mối. Nếu người đàn ông chết vợ mà con còn nhỏ thì việc mua bán cây trái vườn thì họ gọi những người mua bán dạo đến mua tại nhà, hay nhờ chị, em gái ruột đi mua bán giùm. Nếu nhà có con gái lớn thì đứa con gái này có trách nhiệm đi chợ mua bán.

Người đàn bà xưa gắn với chợ, ngồi chợ, chạy chợ không ít thời gian. Có người mười năm, đôi ba chục năm. Họ chẳng biết ngày lễ, ngày chủ nhật để nghỉ ngơi. Khi bụng mang dạ chửa, họ vẫn đi chợ bán buôn cho tới tận ngày sanh. Sanh xong, chưa kịp đầy tháng, người mẹ gửi con cho ông bà, hay cho đứa con lớn giữ, tiếp tục chạy chợ, ngồi chợ. Bồng con mẹ gửi cho bà/Để mẹ đi bán kẻo mà chợ trưa.

Họ chỉ nghỉ chạy chợ khi sinh con, khi nhà có cưới xin, khi bị ốm đau liệt giường liệt chiếu hay khi lụt lội gió bão ... Khi nghỉ chạy chợ, họ tiếc hùi hụi vì như thế là mất mối hàng, mất khách quen, dẫn đến việc việc buôn bán ế ẩm. Không những tiếc, họ còn lại nhớ chợ như khi đi xa nhớ nhà vậy.

Xưa kia, người đàn bà Ninh Hòa đi chợ, chạy chợ, họ thường mặc bộ bà ba đen hay nâu. Đây là bộ đồ để dành mặc khi đi chợ, chạy chợ, một bộ đồ tương đối lành lặn, sạch sẽ. Áo may cổ kiền, hai cái túi ở hai vạt trước, áo gài bằng nút bóp, không ai mặc áo có nút gài lỗ khuy, đó là áo của đàn ông, con gái hay phụ nữ mặc thì bị chế diễu là “lại đực”. Để che kín lưng bụng, họ còn mặc thêm bên ngoài một cái áo nữa. Hai cái túi có cài cây “kim đầm” để tránh tiền rơi rớt ra bên ngoài. Thời còn dùng tiền kẽm có lỗ vuông ở giữa, họ dùng dây xỏ xâu rồi bỏ vào túi, cài kỹ. Hầu hết họ đội nón và đa số đi chân đất.

Hàng hóa đi bán ở chợ nhiều thì gánh, ít và nhẹ thì bưng bằng rổ lớn, dưới đáy rổ có mảnh tre cật làm chân đế. Còn người đàn bà đi chợ mua hàng thì họ bưng rổ. Khi đi chợ mua thức ăn như tôm cá, một số đồ gia dụng thì họ thu nhặt ở vườn nhà một ít trái cây, rau cải, lá chuối ... để xuống chợ bán kiếm một ít tiền. Nếu trong vườn không có gì để mang đi chợ thì mẹ con ra bờ ruộng hay ven sông nhổ một thúng rau má. thêm lá me non. Họ tin rằng đi chợ mà trong rổ không có món gì bán sẽ dễ cho tiền bạc thất thoát, không thu được lợi vào.

Tại chợ, những người con gái có chút nhan sắc thì dễ bán hàng hơn những người già cả. Vì trong chợ cũng có ít chàng trai hay đàn ông đi chợ, họ thường sa vào các hàng có người con gái đẹp bán hàng, ăn hàng con gái, đái hàng bà lão như dân gian đã nói. Người con trai có tiền đi chợ thường đến hàng cô gái, nhất là những cô gái đẹp, có duyên để mua hàng. Đây là dịp để chàng trai làm quen với cô gái, tán tĩnh, khoe tiền bạc. Nhưng khi chàng trai đau tiểu, không dám tới hàng cô gái vì mắc cỡ, anh chàng đến hàng bà già xin ra phía sau để tiểu. Đây cũng là một hình ảnh thường thấy ở những ngôi chợ quê. Vì thế chợ cũng là nơi nam thanh nữ tú quen nhau, tìm hiểu nhau và có thể dẫn đến hôn nhân. Cho nên gái chưa chồng trông mong đi chợ và còn khuyên nhau kén chồng phải năng đi chợ vì như ông bà ta đã nói: trai khôn kén vợ chợ đông/Gái khôn kiếm chồng giữa chốn ba quân. Nhưng đi chợ để kiếm chồng như bà lão trong phiên chợ Tết đã trình bày ở trên thì cũng là một chuyện lạ, chuyện vui.

Những người con gái chưa chồng chạy chợ, hồi đó bị lính tráng chọc ghẹo, có khi có những hành động sàm sỡ. Trường hợp này được dân gian thể hiện trong câu ca:Cậu cai buông áo em ra/Để em đi chợ kẻo mà chợ trưa/Chợ trưa rau sẽ héo đi
Lấy chi nuôi mẹ, lấy gì nuôi em?

Người đàn bà đi chợ, chạy chợ cũng tìm thấy ở chợ những điều học hỏi được, đi một buổi chợ, học một mớ khôn, như người ta thường nói. Hay như: Chưa đi đến chợ thì ngây/Đã đi đến chợ thì hay mọi bề. Hay:Em về bán ruộng đi buôn/Thêm khỏe cái xác, thêm khôn con người.

Chính ở chợ, người dân quê biết được một số chuyện, một số việc nơi này nơi khác mà họ không thể biết được, nghe được khi phương tiện truyền thông còn quá ít ỏi thời xa xưa đó. Người đi chợ hay ngồi bán ở chợ cũng thường gặp người quen, hoặc bạn bè, hoặc người trong dòng họ, có người năm mười năm không gặp. Thế là chuyện trò, hỏi thăm, hẹn hò ngày gặp lại ... rôm rả cả lên và thời gian cũng trôi qua không ít. Có người ra chợ cũng có dịp tìm người để hỏi thăm tin tức chồng, hay người thân thuộc làm ăn ở xa. Vì chợ cũng là nơi tụ họp của một số người đến từ những nơi xa xôi, có thể đem đến chợ những tin tức nào đó cho người cần biết.

Còn đàn bà có kinh nguyệt thì họ kỵ ra đường hay đi chợ ... Nhưng nếu gặp việc tối cần phải ra chợ thì họ phải mặc quần dài đôi, áo dài đen che kín cả người. Trường hợp trên đường đi chợ phải lội qua sông cạn, khi đến sông, trước khi lội qua phải rửa chân sạch sẽ từ đầu gối trở xuống rồi mới lội.

Những làng gần chợ Huyện, người dân đi bộ xuống chợ. Những làng xa chợ Huyện, những người đi chợ phải đi xe ngựa. Sáng sớm, những người đi chợ mua, bán tụ tập tại nhà chủ xe ngựa để xe chở đi. mỗi xe có thể chở được 10 người. Đến chợ, xe ngựa đỗ tại bến xe ngựa chờ đợi gần trưa, khi những người đi chợ mua bán xong, chở về nhà.

Có những làng quá xa chợ Huyện mà không có xe ngựa, dân làng năm sáu người tụ họp từ lúc hừng đông, cùng nhau đi bộ xuống chợ. Mua bán xong, họ tụ tập nhau về. Để thịt cá khỏi ươn, họ mua cá thịt ướp muối. Dọc đường họ nghỉ chân dưới bóng tre gần bờ sông hay dưới bóng mát cây gạo. Họ có dở cơm và thức ăn, thức uống để ăn trưa trong lúc nghỉ chân.

Mẹ đi chợ, con lớn ở nhà trông em, ru em ngủ: Ru em cho thét cho mùi/Cho mẹ đi chợ mua vôi têm trầu ... Trưa hay chiều, bao giờ con cái cũng ngóng mẹ đi chợ về, mong như mong mẹ về chợ. Có đứa ẵm em đứng đợi ở đầu ngõ, có đứa chạy ra đường đến nơi nào đó ngồi trông mẹ về. Vì mẹ đi chợ về bao giờ cũng có quà. Cha mẹ già ở nhà cũng trông ngóng. Quà chợ quê thì không có gì cao sang, đắt giá, không nhiều, chỉ là vài cái bánh bò, vài cái bánh phồng, năm ba khúc mía hay gói kẹo bòn bon, vài cái bánh cam, những chùm quả ngọt ... Chỉ có thế thôi mà đã làm cho con trẻ hay cha mẹ già cũng vui mừng rồi. Quà chợ quê luôn bất ngờ, thơm ngon và thú vị như thế. Tuy nhiên cũng có ít bà mẹ thích ăn hàng ở chợ, không còn tiền để mua quà về cho con, làm cho trẻ khóc lóc. Những người mẹ này thường bị người dân chê cười. Cho nên có người ăn quà chợ lạ để không bị lộ.

Người phụ nữ Ninh Hòa thời xưa đa số thật thà, hiền hậu. Chính vì thế khi đi chợ bán trái cây, rau cải, họ thường bị những người mua dạo đón đường “nói ngon nói ngọt” để mua với giá thật rẻ, Hay những người mua nhận trả giá cao, nhưng khi trả tiền thì họ ”bớt đầu bớt đuôi”, cuối cùng cũng là giá rẻ. Gặp những người bán cá với thái độ hung dữ, luôn chửi mắng thì người đàn bà quê phải im lặng chịu thua.

Những đứa trẻ gái tuổi từ 12 đến 14 cũng được mẹ hay chị tập cho đi chợ để sau này trở thành thói quen, biết việc mua bán thay thế người mẹ, người chị đã từng tần tảo nơi chợ búa. Ban đầu, những bé gái đó theo mẹ hay chị đi chợ bán mớ rau má nhổ ở bờ ruộng, mớ lá sâm nam (để vò nấu xu xoa) mọc bò ở hàng rào, mớ lá me non ... Tiền bán được, hoặc chúng để dành, bỏ bùng binh tiết kiệm (tiếng địa phương gọi là bục bịch) hoặc mua ít bánh kẹo cho bà, cho em nhỏ.

Người đàn bà buôn bán hay đi chợ mua hàng có những đặc điểm sau:

1. Tính rợ: Tính rợ là cách tính nhẩm của người đàn bà Ninh Hòa ngày xưa đi chợ, hay những người buôn bán tại chợ. Họ làm những bài tính trong óc, không nói ra, khi xong bài toán, họ nói số thành. Đây là kỹ năng thiên phú, mỗi người đàn bà đi chợ đều có cách tính toán riêng cho mình. Nữ giới trong chế độ phong kiến không được cha mẹ cho đi học, ngoài một số ít con nhà hào phú. Đi học, đi thi chỉ là nam giới. Nữ giới có nhiệm vụ lo việc nội trợ, đi học chữ nghĩa chẳng làm được gì, mọi chuyện liên quan đến chữ nghĩa có nam giới trong gia đình chăm lo, thậm chí có cha mẹ bảo rằng cho con gái đi học để chúng viết thư cho trai, điều mà cha mẹ không ai mong muốn.

Nhưng người nữ có người rất sáng dạ trong việc tính toán. Họ không biết các con số, không biết sử dụng bàn tính như những người biết chữ, nhưng họ tính nhẩm (tính rợ) rất nhanh và rất chính xác. Còn những phụ nữ chậm chạp, không lanh lẹ trong tính toán thì họ tính từ từ, dùng các ngón ta hay thẻ tre để tính.

Trong Hương hoa đất nước của Trọng Toàn có bài ca dao thể hiện sự tính toán rành mạch, chính xác của người phụ nữ đi chợ:

Một quan tiền tốt mang đi
Nàng mua những gì mà tính chẳng ra
Thoạt tiên mua ba tiền
Tiền rưỡi gạo nếp với ba đồng trầu
Trở lại mua sáu đồng cau
Tiền rưỡi miếng thịt, giá rau mười đồng
Có gì mà tính chẳng thông
Tiền rưỡi gạo tẻ, sáu đồng chè tươi
Ba mươi đồng rượu chàng ơi
Ba mươi đồng mật, hai mươi đồng vàng
Hai chén nước mắm rõ ràng
Hai bảy mười bốn, kẻo chàng hồ nghi
Hai mươi mốt đồng bột nấu chè
Mười đồng nải chuối, chẵn thì một quan
([1]) .

Đây là tiền thời Cảnh Hưng, đời Lê Hiển Tông (trị vì 1740-1786), đơn vị tiền nhỏ nhất là đồng, 60 đồng bằng một tiền, mười tiền bằng một quan. Người đàn bà đi chợ mang 1 quan tiền, bằng 600 đồng, mua các thứ vừa đủ 600 đồng, với cách tính toán không cần bút mực, máy tính:

Mua ba tiền gà : 60 đồng x 3 = 180 đồng. Tiền rưỡi gạo nếp : 90 đồng. Trầu : 3 đồng. Cau: 6 đồng. Tiền rưỡi thịt : 90 đồng. Rau: 10 đồng. Tiền rưỡi gạo tẻ : 90 đồng. Chè tươi : 6 đồng. Rượu : 30 đồng. Mật : 30 đồng. Vàng : 20 đồng. Hai chén nước mắm : 7 đồng x 2 = 14 đồng. Bột nấu chè : 21 đồng. Nải chuối : 10 đồng. Cộng: 600 đồng.

2. Đi chợ về tay không

Tật xấu của một số người đàn bà có máu “đỏ đen” ngày xưa ở Ninh Hòa đi chợ là sau khi bán hàng xong họ sa vào cờ bạc, sa vào các sòng xóc dĩa (chơi chẵn lẻ), tài xiểu... Hôm nào vận đỏ, có tiền mua cá mắm, mua quà về cho con. Nhưng đa số đều là vận đen, “đi chợ về tay không”, lại giả bộ khóc lóc bảo với chồng rằng tiền bán hàng bị kẻ gian móc túi. Nhưng không có việc gì bí mật mãi, có ngày cũng lộ ra. Người chồng biết thì can ngăn, giải thích có khi la lối đánh đập, có người bỏ, nhưng có người bị con ma cờ bạc lôi kéo mãi để rồi đi đến cảnh vợ chồng phải ly dị.

3. Đi chợ ăn hàng

Ăn hàng ở chợ, đây cũng là một tật xấu của một số người đàn bà Ninh Hòa đi chợ. Nếu đến chợ quá sớm, không kịp ăn sáng ở nhà, ra chợ, người đi chợ hay người bán hàng tại chợ có thể ăn lót dạ để có sức mua bán suốt buổi. Nhưng ở đây là những người đàn bà đi chợ mua hàng hay gánh hàng ra chợ bán, vừa bày xong hàng là bắt đầu ăn hàng của những người bán hàng ăn gánh dạo, vừa ăn vừa bán và có thể ăn nhiều bánh trái của những hàng rong. Sau khi bán hàng xong, họ tìm đến những hàng bún nem chả, ăn no bụng rồi mới đứng dậy mua cá thịt mắm muối mang về nhà. Đó là những người còn biết nhín tiền lại để mua cá thịt tương đối ngon, còn có người tiền còn lại quá ít, họ mua những loại cá của những hàng cá ế ẩm, cá đã bắt đầu ươn, hay thịt heo “bầy nhầy bạn nhạn” ... Về đến nhà, họ nấu nướng cho xong chuyện, rồi giả bộ mệt mề đi nằm, không ăn trưa. Họ quá no rồi, ăn uống gì được nữa. Dân gian địa phương thường chê trách những người đàn bà đi chợ có tật ăn hàng này bằng câu: Đi chợ ăn hàng, mua tàn (toàn) cá thúi. Dân gian ta cũng có những câu ca dao tục ngữ nói về người đàn bà hay ăn hàng ở chợ, phê phán hạng phụ nữ ham ăn uống, không biết lo lắng công việc nhà cửa, đi chợ thì ăn quà, không biết cần mua vật dụng gì cho nhà: - Đi chợ ăn quà, về nhà đánh con. - Đói ông ở nhà, không đói bà ở chợ.

- Đi chợ em hay ăn quà, Chồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơm. - Đi chợ hay ăn quà, chồng đánh chẳng chừa, vẫn cùi dừa bánh đa. - Ruộng đồng bỏ cỏ không cày, Chợ xa, quà rẻ, mấy ngày cũng đi. -- Hàng bấc thì qua, hang quà thì đến.

Không những người đàn bà đi chợ ăn hàng mà cả người đàn ông nữa: Anh lo ăn uống cho sang/Hết hàng thịt chó đến hàng cháo kê/Khuyên anh, anh nỏ chịu nghe/Ôm mấn ôm áo, tôi về nhà tôi.

Chính vì thế, có những bà mẹ thường dặn dò con cháu:  Đi chợ thì chớ ăn quà/Mua xong chớ có rề rà ở trưa/Dù ai bảo đợi bảo chờ/Thì em nói dối: Con thơ phải về!

4. Tính hay đòi thêm:

Trong việc mua hàng, những người đàn bà Ninh Hòa ngày xưa có thói quen tìm cách làm sao mua được hàng nhiều mà giá lại rẻ. Đó là chuyện hay đòi thêm, như dân gian đã nói: Bán hàng nói thách, làm khách trả rẻ.

Mua những hàng củ quả, rau cải ... bán lẻ, những người đàn bà mua hàng trả giá rất rẻ, chê trái củ nhỏ, không tốt, chê rau không xanh, héo úa ... rồi giả đò không mua, bỏ đi. Sau đó, họ trở lại trả giá tiếp, cho đến khi giá rẻ tột cùng rồi họ mới mua. Đến khi trả tiền, họ giở trò đòi thêm một củ, một mớ rau. Người bán dù đã bán rẻ rồi, nếu không cho thêm sợ người mua không mua nữa, trả hàng lại, hàng sẽ ế ẩm và có khi mất bạn hàng. Dân gian ví von những người đàn bà mua hàng này nếu mua không được thêm, ban đêm nằm không ngủ. Tuy nhiên cũng có người bán ăn lãi tùy chốn, bán vốn tùy nơi. Người bán hàng ở chợ, có người cho việc bán rẻ là có nhiều điều lợi như: Bán rẻ cho khỏe sống lâu/Bán rẻ còn hơn đẻ lãi/Bán rẻ về tắt, bán mắc về trưa hay bán rẻ hơn ngồi không, cũng như có chồng hơn ở góa.

Còn những người đàn bà mua ở hàng tôm hàng cá để về bán lại thì họ không dám đòi thêm, vì họ sợ giới bán buôn này có thể mắng chửi họ. Thôi thì tránh voi chẳng hổ mặt nào.

Ngô Văn Ban  -  Võ Triều Dương

 


[1] Trong Toàn, Hương hoa đất nước, Quyển Nhất, Xuất bản Bốn Phương, Sài Gòn, 1956, trg.96-97.

Bài liên quan