QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

Bài cùng tác giả

- Đình - lăng Bình Tây ở Ninh Hải, Ninh Hòa - Đỗ Văn Khoái

- Giản giới tục thờ Ngũ hành thần nữ ở Khánh Hòa - Đỗ Văn Khoái

 

 

 

 

 

VĂN BIA ĐÌNH MỸ HIỆP – NINH HÒA

Đình Mỹ Hiệp ngày nay thuộc Tổ dân phố số 3, phường Ninh Hiệp thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Là một ngôi đình cổ được khởi dựng vào ngày lành, tháng bảy, năm Tân Mùi ( Tân Mùi niên, thất nguyệt, cát nhật tạo) căn cứ vào hai thanh xà hiện còn tại đình đều khắc năm tháng tạo dựng bằng văn khắc chữ Hán nhưng không ghi rõ triều đại đời vua nào. Cũng căn cứ vào dòng lạc khoản của bức hoành phi có nội dung: Đình thờ xã Mỹ Thạnh ( Mỹ Thạnh xã đình tự), thì ta biết được đình được trùng tu vào ngày lành, tháng sáu, năm Quý Dậu niên hiệu Tự Đức, tức năm 1873 ( Tự Đức Quý Dậu quý hạ cát nhật trùng tạo), lúc đó đình thuộc xã Mỹ Thạnh. Như vậy có thể nói đình Mỹ Hiệp được xây dựng sớm vào năm Tân Mùi trước mốc năm 1873. Theo truyền ngôn nhiều đời của các bậc hào lão thì đình được xây dựng vào năm Tân Mùi 1751.

Đình Mỹ Hiệp

Hiện tại, ngôi đình vẫn còn lưu giữ được khá nhiều các tư liệu Hán Nôm có nội dung quan trọng, đó là các bức hoành phi, câu đối, minh chí, văn bia..., đây thực sự là những tư liệu quý trong việc tìm hiểu giá trị lịch sử và khoa học của di tích mà các bậc tiền nhân đã trước thuật và lưu truyền. Trong số những tư liệu quý đó, chúng tôi muốn đề cập đến một văn bia hiện còn tại đình mà nội dung văn bia này mang lại thiết nghĩ cần được hiểu đúng về các khía cạnh nội dung quan trọng của nó.

Cổng đình Mỹ Hiệp và mặt trước án phong

Bia hiện được dựng chìm vào trong Án phong trước đình, thiết kế theo một mặt phẳng đơn giản. Trên bia khắc 13 dòng chữ Hán theo chiều dọc, dòng tiêu đề khắc nội dung “Mỹ Hiệp xã đình chí” nghĩa là: Bài ký đình xã Mỹ Hiệp. Chữ khắc chân phương, hiện đã được BQL tô sơn màu đỏ cho dễ đọc. Căn cứ vào nội dung của văn bia ta biết được các nội dung chính sau đây:

- Quy mô xây dựng: ban đầu quy mô xây dựng của đình Mỹ Hiệp được chia làm hai khối, rất trang nghiêm, đến lần trùng tu năm 1931 ngôi đình được hợp nhất làm một khối như hiện tại và cũng trong dịp này đã làm bài ký khắc vào bia đá lưu truyền đến nay.

- Lý do trùng tu: do đình xuống cấp trầm trọng, ngói vỡ, tường sụt lở…

- Những người có công trong việc trùng tu: nội dung văn bia ghi nhận công lao và đề cao vai trò của bốn vị đại nhân, quan chức trong việc trùng tu hợp nhất ngôi đình. Đó là các vị trong Phủ đường, Niết đường, bổn tỉnh Phủ viện đường và bổn tòa Công sứ đường. Ngoài việc khắc ghi công đức của toàn dân đã quyên góp và cúng tiến sức người sức của để trùng tạo ngôi đình, văn bia cũng nêu rõ vai trò của vị quan trong Phủ đường là đại nhân họ Võ – người có công trong việc xem xét thế cuộc, thiết kế đồ hình của ngôi đình để hợp nhất làm một.

Hiện tại, di tích cũng có một văn bia dịch nghĩa nội dung văn bia chữ Hán trên bằng tiếng Việt để người dân tìm hiểu, song xem kỹ thấy bản dịch văn bia này còn nhiều chỗ cần được bổ túc như: không có phần phiên âm, không dịch tiêu đề văn bia, dịch thiếu nội dung (chỉ đề cập hai vị đại nhân trong bốn vị), có chỗ không phản ánh đúng ý tứ của tiền nhân, và thêm những chi tiết không có trong văn bản gốc của nội dung chữ Hán, ví dụ: câu: “dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Trong đó, văn bia ngoài nội dung ghi nhận sự công đức quyên cúng của toàn thể nhân dân để tu sửa đình miếu, thì nội dung chính của văn bia là đề cao sự quan tâm, giúp đỡ của các vị quan bổn tỉnh, bổn huyện, Phủ đường đã làm nên việc tu sửa thành công này. Tiếc rằng văn bia chỉ cho ta biết danh tính đầy đủ của một vị đại nhân trong bốn vị đó là ngài Dịch Khai Hoa – giữ chức Bổn tòa Công sứ đường, còn ba vị còn lại chỉ nêu họ mà không nêu tên.

Mặt sau án phong và văn bia

Xét thấy, đây một văn bia quý, rất có giá trị đối với di tích và người dân trong vùng cũng như mong muốn được giải mã và hiểu đúng nội dung văn bia mà người xưa gửi gắm, chúng tôi đã tiến hành phiên dịch và xin được giới thiệu toàn văn bài văn bia[1]:

Phiên âm

Mỹ Hiệp xã đình chí.

Cổ lai sáng thủy nan, kế thành cánh nan, chung nhi năng tán thành thụ lập nhất cơ sở giả vi vưu nan. Nan nhi năng hành chi, thử kì tại nhân biểu biểu chi đức trạch. Thịnh truyền mỹ chương, lượng phi khẩu bi sở năng tận hình dung dĩ. Ngô xã đình miếu tòng tiền phân vi lưỡng cục, lịch cửu triệu bồi dĩ kinh thế đại trang nghiêm đống vũ diệc viết tráng tai. Nãi vãn cận phong tràng vũ hám, ngõa toái viên đồi, mỗi ư kinh quá hạ bái thời, kỉ hữu cổ thụ hàn nha chi khái. Xã trung viên hào niên lai tập nghị tu tập nhi vị năng dã, hà thùy linh thần mặc hộ sinh Phật trùng lai. Phụng ngã bổn tọa quý Công sứ đường Dịch Khai Hoa, nhị đại nhân ngã bổn tỉnh Phủ viện đường Nguyễn đại nhân, ngã Niết đường Đinh đại nhân niệm trọng dân y, phủ tòng dân nguyện, chuẩn dĩ trích thủ hương ngân tịnh thính quyên cúng đắc ngân số cự, hiện trù tu chỉnh. Thích mông ngã Phủ đường Vũ đại nhân lai lị tư thổ, thùy tình chiếu cố, chỉ thị đồ thức, hợp thành nhất cục, phấn sức trùng tân hoán như dã. Lạc thành chi nhật, ngô xã chi thân nhược hào, lão nhược thiếu hàm hân hân nhiên. Hỉ viết: mỹ tai giang sơn, ngô thổ tiền huy hậu hoa; tuy viết dân lực vi chi, thần quyến bằng chi, nhi thực ngã thượng quan lập chi thành chi chi đức trạch sở trí dã. Cảm bất công chi lê táo, thọ chi sùng hồng dĩ vi thiên vạn thế hậu nhất kỉ niệm, thị vi chí.

Hoàng triều Bảo Đại lục niên thập nhất nguyệt thập tam nhật.

Tây lịch nhất thiên cửu bách tam thập nhất niên thập nhị nguyệt thập nhất hiệu.

Phụng chí Mỹ Hiệp xã bản xã đồng ký.

Dịch nghĩa:

Bài ký đình xã Mỹ Hiệp[2]

Từ xưa đến nay, sáng tạo ra đã khó, tiếp tục làm nên càng khó, cuối cùng để dựng lên được một cơ sở lại càng khó hơn. Khó mà có thể làm được đó là bởi ở đức trạch hơn người vậy. Phàm thạnh vượng thì lưu truyền, đẹp đẽ tất sáng rõ[3], thực là không thể dùng lời nói hay bia đá mà có thể hình dung cho hết được. Đình miếu xã ta từ trước chia làm hai khối, trải qua thời gian, các đời đắp bồi tu sửa kể đã trang nghiêm, cũng nói là hoành tráng thay! Xem thời gian gần đây, gió mưa hủy hoại đã khiến ngói vỡ tường lở, mỗi khi qua đó cúng kính, cảm thấy bùi ngùi tựa cây già vắng bóng chim qua. Các viên hào trong xã trước nay đã họp bàn việc tu sửa mà chưa làm được, lẽ nào còn đợi các bậc thần linh ngầm giúp, đức Phật tái sanh? Vâng theo bổn tòa quý Công sứ đường là ngài Dịch Khai Hoa và hai vị đại nhân của ta là vị đại nhân họ Nguyễn giữ chức Phủ viện đường bổn tỉnh và vị đại nhân họ Đinh ở Huyện đường, nghĩ đến chỗ dân nương tựa, xét theo ý nguyện của dân, chuẩn cho việc trích tiền công quỹ ở nơi xóm làng cùng với số tiền quyên góp, được một số lớn, trù tính tu sửa. Lại đến nhờ vị đại nhân họ Võ nơi Phủ Đường đến xem xét đất này, rủ lòng chiếu cố chỉ bày cho mô hình hợp lại thành một khối, tô điểm trùng tu rực rỡ như thế. Ngày khánh thành, các văn thân hào mục, người già người trẻ xã ta ai nấy vẻ vui mừng. Ngợi khen rằng: đẹp thay! Núi sông đất đai ta, trước đã huy hoàng sau lại nở hoa; dẫu nói rằng đó là do sức dân làm nên, lại được thánh thần phò giúp, nhưng thực là nhờ đức trạch tột bậc của các vị thượng quan đã lập nên và đã làm nên việc đó. Đâu dám không vì việc chung mà khắc ghi[4] công đức lớn lao để lại cho muôn vạn đời sau một kỷ niệm, do vậy làm bài ký này.

Hoàng triều Bảo Đại năm thứ 6 (1931), tháng mười một, ngày mười ba.

Ngày 11, tháng 12, năm 1931 Tây lịch.

Xã Mỹ Hiệp kính ghi, Bản xã đồng ký.

 

Đỗ Văn Khoái

Trung tâm Bảo tồn di tích Khánh Hòa.

 

Tài liệu tham khảo:

1. Hồ sơ di tích đình Mỹ Hiệp

2. Tư liệu Hán Nôm đình Mỹ Hiệp

 

[1] Bài viết hoàn thành với sự giúp đỡ về tư liệu và hình ảnh của các cán bộ nghiệp vụ Trung tâm Bảo tồn di tích Khánh Hòa, nhân đây xin được gửi lời cám ơn.

[2] Các phần: chế bản chữ Hán, phiên âm, dịch nghĩa và chú thích nội dung văn bia do tác giả thực hiện.

[3] Câu này lấy ý trong tác phẩm “Dữ vu Tương Dương thư” của Hàn Dũ – một trong những nhân vật tiêu biểu trong Đường Tống bát đại gia (tám nhà văn nổi tiếng thời Đường, Tống ở Trung Quốc), trong đó có câu: “mạc vi chi tiền, tuy mỹ bất chương; mạc vi chi hậu tuy thịnh bất truyền”. Nghĩa là: đời trước không làm, tuy đẹp nhưng không sáng rõ; đời sau không kế tục, dẫu thịnh vượng cũng chẳng thể lưu truyền.

[4] Khắc ghi: là dịch theo chữ lê táo. Thời xưa, các ván khắc gỗ để in ấn thường được làm bằng gỗ cây lê hoặc gỗ cây táo, do vậy lê táo cũng để chỉ các văn bản điêu khắc.