QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

Chuyện chữ nghĩa về

con dê trong thư tịch cổ

NGÔ VĂN BAN

 

 

Truyện Tàu Đông Chu Liệt Quốc có nhân vật Lý Hề là Bá Lý Hề, người nước Ngu (Trung Quốc), nhà nghèo, ba mươi tuổi mới cưới vợ, không tiến thân được ở nước Ngu, bốn mươi tuổi phải bỏ nhà ra đi tìm công danh ở các nước khác. Có nhiều khi phải đi ăn xin, giữ trâu, nuôi ngựa để kiếm tiền. Sau này về già, mới được Mục Công nước Tần chuộc về từ nước Sở bằng năm tấm da dê cái màu đen loại tốt, phong làm Thượng Khanh nắm giữ binh quyền trong nước, người đời gọi Bá Lý Hề là Ngũ Cổ Thượng Khanh, tức là quan Thượng Khanh Năm Tấm Da Dê. chữ CỔ cũng là tên gọi loài dê đen (theo Hán Việt tự điển của Thiều Chửu).  

Trong Đại Nam nhất thống chí của Quốc Sử Quán triều Nguyễn, được biên soạn từ thời vua Tự Đức, năm thứ 29 (1875), chép tại phủ Thừa Thiên, nơi mục Thổ sản, có nói về các giống thú, trong đó có loại Dê rừng trắng sừng: Linh dương. Bản thảo gọi là lộc linh dương; Hoàn Vũ Ký chép núi cao thuộc An Nam sản giống linh dương có một sừng, rất rắn, có thể húc nát được đá kim cương (…). Sừng nó có công dụng chữa nhiệt phong và kinh giản ([1]). Ngoài loài dê trên, còn có loại: Dê rừng đen sừng, gọi là Sơn dương. Bản thảo gọi là dã dương, là nguyên dương. Thịt nó công dụng trừ khí lam chướng. Thực vật tiệp lục chép rằng thịt nó ngọt không độc ([2]). Ngoài ra, sách còn chép về loài dê:  Dương,  Bản thảo gọi là cổ, là dê, là yết; Sách Lễ Ký chép là nhu mao, là thiếu lao; Sách Chu Dịch chú rằng, mắt không có con ngươi mà vẫn trông được. Lại có một loại Đại vĩ dương, đuôi rất to. Năm Minh Mạng thứ 17 (1836) khắc hình tượng vào Dụ đỉnh ([3]) (trong hệ thống Cửu đỉnh trong Hoàng thành Huế). 

Về việc mắt dê không có con ngươi mà trông được như trong Đại Nam nhất thống chí đã chép, Lê Quý Đôn, trong Vân Đài loại ngữ, sách được biên soạn vào niên hiệu Cảnh Hưng thứ 34 (1773),  nơi mục Khảo về mười hai động vật thuộc số thập nhị chi, có chép: Về vấn đề này, thiên Sinh tiêu luận của Vương Sung đời Hán viết về con dê: ẤT MÙI ở trên trời là GIÓ, ở ngũ tạng là GAN, GIÁP MỘC sinh ở HỢI, tử ở NGỌ, mộ ở MÙI, cho nên loài dê trông ngược, không có con ngươi, và bốn  móng ([4]).

Con dê trong chữ Hán, người xưa Trung Quốc có nhiều từ để gọi. Theo Tự điển Hán Việt của Thiều Chửu, có ghi: CỔ là con dê đen, ĐÊ là con dê đực, YẾT là con dê đã thiến rồi. Ngoài ra còn có CAO là con dê con, TRỮ là con dê non mới năm tháng, VẠT YẾT là con dê ở xứ rợ Hồ (Trung Quốc). Đó là Hán tự thuộc bộ DƯƠNG. Thuộc bộ này còn có chữ MỊ là be be, tiếng dê kêu, NHUNG là một thứ dệt bằng lông dê nhỏ rất ấm … Qua đó, ta thấy loài dê rất phong phú trong tâm thức người Trung Quốc. Người Trung Quốc coi con dê là con vật tượng trưng cho sự may mắn, là điều cát tường vì chính chữ DƯƠNG là con dê ngày xưa dùng như chữ TƯỜNG.

Chuyện … dê lại có dính dáng đến xe dê như trong câu thơ của Nguyễn Gia Thiều trong tác phẩm Cung oán ngâm khúc: Phải duyên hương lửa cùng nhau/ Xe dê lọ rắc lá dâu mới vào. Xe dê hay dương xa đây là xe do dê kéo của vua Tấn Võ Đế khi đầu hôm cho đi ngang qua các phòng các cung nữ, xe ngừng phòng nào thì cung nữ đó sẽ được diễm phúc đến phòng vua. Do đó các cung nữ thường rắc lá dâu trộn muối trước phòng mình hấp dẫn dê ngừng lại để ăn. Câu thơ nói lên điều phải duyên hương lửa thì không cần phải dùng … thủ thuật đó. Nhưng hàng trăm cung nữ trong cung làm sao phải duyên hương lửa với vua được, nên phải … cầu cứu con dê thôi, nếu không sẽ già, sẽ chết đi mà không bao giờ thấy được mặt vua, dù một đêm. Đó là nỗi đau đớn, buồn khổ, oán than của những người con gái có nhan sắc thời xưa bị bắt vào cung làm thân phận cung nữ.

Trong tác phẩm Tô Công phụng sứ, tác giả Lê Quang Bí, sinh năm 1506 là quan nhà Mạc và là nhà thơ. Ông người Hải Dương, đỗ tiến sĩ đời Lê. Ông được nhà Mạc cử làm phó sứ sang Trung Quốc cầu phong vua nhà Minh năm 1548. Ông bị vua quan nhà Minh bắt giữ vì nghi ngở giả mạo. Ông bị giam ở công quán, mãi đến năm 1566, 18 năm sau mới được về nước. Người Minh ví ông như Tô Vũ đi sứ đến lúc bạc đầu mới được trở về. Trong thời gian bị giữ lại ở Nam Ninh, Lê Quang Bí sáng tác tập thơ "Tô Công phụng sứ", gồm 24 bài thơ Đường luật, thuật lại chuyện Tô Vũ đời nhà Hán đi sứ sang Hung Nô, để gửi gắm tâm sự của mình.

Loài dê là loài thú thường toát ra mùi hôi thối như loài cừu mà ta thường gọi là con chiên. Từ chiên này do từ gốc Hán là thiên , Hán Việt ự điển củaThiều Chửu giải thích thiên mùi tanh hôi của giống dê. Cho nên con người ăn ở mất vệ sinh cũng được ví với loài dê như câu ca dao: … Bẩn như thợ nề/Chỗ ăn chỗ ở như nó nằm. Trong bài Văn tế Nghĩa sĩ Cần Giuộc, cụ Nguyễn Đình Chiểu đã ví giặc Pháp là tinh chiên , loài có mùi hôi thối như loài dê: Mùi tinh chiên vấy đá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ. Có phải vì cái mùi đặc biệt đó mà con dê nằm ở năm Mùi? Trong lịch ở Trung Quốc, năm con con dê là năm VỊ cũng đọc là MÙI.  Trong Hán Việt tự điển của Thiều Chửu chữ VỊ được giải thích là mùi chua, đắng, ngọt, cay, mặn là năm mùi NGŨ VỊ. Còn Tự điển chữ Nôm của Nguyễn Quang Xỹ và Vũ Văn Kính đã giải thích chữ MÙI: 1.Hán đọc: Vị: mùi: mùi hôi, mùi thơm, mùi thối. 2. Hán đọc: VỊ, nhưng ta quen đọc là MÙI: tuổi Mùi, mùi thơm, mùi hôi, chín mùi. Như thế MÙI là hơi, là hương, là vị và con dê là chắc chắn là con vật có mùi hôi đặc biệt  mà ai cũng biết.


NVB

 


[1] Quốc Sử Quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, bản dịch của Phạm Trọng Điềm, Tập 1, NXB Thuận Hóa, Huế, 1992, trg.391.

[2] Quốc Sử Quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, sđd, trg.391.

[3] Quốc Sử Quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, sđd, trg.388..

[4] Lê Quý Đôn, Vân Đài loại ngữ, bản dịch của Phạm Vũ, Lê Hiền, NXB Miền Nam, Sài Gòn, 1973, trg.99.