QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

Bài cùng tác giả

- Lý Bạch và bài thơ Hoàng Hạc Lâu 

- Tam thập lục kế có phải là của Tôn Tử không? 

- Những gánh Bài chòi ở quê tôi 

- Mùa xuân bàn chuyện xin xăm Đức Thánh Trần 

- Gió đã chuyển mùa 

- Cấu trúc thờ tự tại đền Trần Hưng Đạo - Nha Trang 

- Lương Châu Từ và nỗi buồn chiến tranh 

- Rượu Hồng Đào 

- Bến Phong Kiều và tiếng chuông Hàn San

- Từ Đạt và Chu Nguyên Chương

- Cấu trúc hệ thống thờ tự trong đình làng Ninh Hòa ... -

 

 

 

 

Truyện thơ và bài vãn ở Khánh Hòa

Hình Phước Liên

 

Tục thờ Thiên Y Thánh Mẫu ở Khánh Hòa là kết quả từ quá trình cộng sinh, cộng cư của hai tộc người Việt – Chăm trên mảnh đất này – là sự hòa quyện của tục thờ Mẫu của  người Việt có nguồn gốc từ đồng bằng Bắc bộ, là tài sản tâm linh được mang theo trên bước đường mở cõi về phương Nam với tục thờ Nữ thần Pô Inư Nagar của người Chăm, để từ đó trở thành tín ngưỡng dân gian có sức ảnh hưởng sâu rộng trông đời sống tâm linh của người dân Khánh Hòa. Đến giữa thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, tục thờ này đã phổ biến rộng khắp và Khánh Hoà đã được mệnh danh là miền đất “Xứ Trầm hương” – không chỉ nơi đây có nhiều trầm mà chính để chỉ miền đất phát tích của huyền thoại về Thiên Y Thánh Mẫu. Và đấy cũng chính là nguồn gốc, cơ sở xã hội để sản sinh ra nhiều bài vãn và truyện thơ về Thiên Y Thánh Mẫu– đặc sản văn học dân gian của Khánh Hòa.

1.

Truyện thơ: Là một bộ phận văn học khá độc đáo và có giá trị của nền văn học phong kiến Việt Nam; là một loại hình văn học kết hợp phương thức tự sự với trữ tình. Truyện thơ luôn có cốt truyện, tình tiết, nhân vật.và có khả năng phản ánh hiện thực với một phạm vi tương đối rộng, vì vậy có người gọi truyện thơ là trung thiên tiểu thuyết (tiểu thuyết vừa). Hầu hết bộ phận văn học này được sáng tác bằng chữ Nôm và phần lớn được viết theo thể lục bát - thể thơ quen thuộc nhất với quần chúng. Một số ít khác viết theo thể thất ngôn bát cú (thơ Ðường luật), song thất lục bát.

Về việc phân loại truyện thơ: Đến nay ở nước ta vẫn chưa có sự thống nhất. Tuy nhiên, có ba cách phân loại sau đây được xem là phổ biến nhất. Đó là:

- Dựa vào nguồn gốc đề tài: Lấy đề tài, cốt truyện từ truyện cổ dân gian; lấy tài, cốt truyện từ văn học Trung Quốc hoặc lấy đề tài, cốt truyện từ những sự tích có thật ở Việt Nam.

- Dựa vào nội dung và hình thức: Chia làm hai loại: Truyện thơ bình dân và Truyện thơ bác học.

- Dựa vào mối quan hệ với tác giả: Chia làm hai loại: Truyện thơ hữu danh và Truyện thơ khuyết danh.

Cả ba hình thức phân loại trên chỉ có tính chất tương đối, trong đó cách phân loại dựa vào nội dung và hình thức là có giá trị khoa học hơn cả.

- Vãn ca (挽歌; Tiếng Anh: Elery; Tiếng Nhật: Banka). Theo các tài liệu, từ điển xưa và nay đều định nghĩa Vãn là “bài ca ai điếu”. Ở Trung Quốc, từ thời Xuân Thu - Chiến Quốc đã có thể loại này, gồm phần âm nhạc và ca từ hợp thành được dùng để hát lên trong lễ tang (chủ yếu là giai cấp trên). Đến thời Hán Ngụy (sau khi Tào Tháo diệt xong Tây Thục và Đông Ngô) Vãn ca được triều đình quy định như một “lễ tục” trong tang lễ. Về sau, Vãn ca đã trở thành phổ  biến như một thể loại thi ca và được nhiều nhân sĩ sáng tác. Điển hình là 3 bài Vãn ca của Đào Tiềm (Đào Uyên Minh). Ở Việt Nam ta, bài “Ai tư vãn” của Ngọc Hân Công chúa có lẽ là bài Vãn ca tiêu biểu nhất(?) Nhiều người cũng xếp các bài văn tế viết theo thể song thất lục bát, lục bát… vào thể loại này.

Nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi thì cho rằng Vãn là Ngâm khúc và là“thể thơ trữ tình dài hơi, thường được làm theo thể song thất lục bát, để ngâm nga, than vãn nhằm bộc lộ những tâm trạng, tình cảm...” [1, tr 183].

Trong thực tế, ở Khánh Hòa có nhiều bài Vãn ngợi ca công đức Thiên Y Thánh Mẫu được tín đồ hát lên như một nghi thức lễ bái vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Đáng tiếc, loại hình này ít được các nhà nghiên cứu quan tâm. Vì vậy, cho đến nay Vãn ca nhất là những bài Vãn dân gian vẫn chưa có một định nghĩa nào thật là rành mạch.

2.

Theo nhiều nhà nghiên cứu văn học dân gian thì quá trình hình thành và phát triển thể loại truyện thơ Nôm ở nước ta nằm trong giai đoạn từ thế kỷ thứ 16 đến những năm đầu của thế kỷ 20. Trong đó, giai đoạn cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 được xem như thời kỳ truyện thơ đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử, là “thời kỳ giã từ của truyện thơ”; ấy cũng là lúc nền Hán học ở nước ta đã đi vào thời suy tàn để nhường chỗ cho nền Tây học phát triển, chữ Quốc ngữ đã thay dần cho chữ Hán, Nôm, như nhà thơ Trần Tế Xương đã từng cám cảnh: “Còn có ra gì cái chữ Nho/ Ông Nghè, ông Cống cũng nằm co/ Chi bằng đi học làm thầy phán/ Tối rượu Xâm-banh sáng sửa  bò.”

Cũng giai đoạn này, ở các tỉnh phía Nam nhiều nhà trí thức mới còn lưu luyến và am hiểu chữ Nôm, hay nói đúng hơn là những nhà trí thức mới, xuất thân từ gia đình Nho học đã chuyển ngữ nhiều “bổn thơ Nôm” thành quốc ngữ và sau đó cho xuất bản những tập truyện thơ khuyết danh gọi là “Bổn cũ soạn lại”. Đi đầu trào lưu này là ông Phạm văn Thình – chủ nhà xuất bản Phạm Văn Thình – Sài Gòn. Ngày nay căn cứ vào những cuốn truyện thơ “Bổn cũ soạn lại” còn giữ được và theo Nhà văn, Nhà Nam bộ học Sơn Nam thì trào lưu này có thể bắt đầu từ năm 1906 – 1914. Những cuốn sách mỏng, hiện đại này được phát hành rộng rãi ở Nam bộ rồi ngược ra miền Trung đã được giới tiểu thị dân, những người bình dân đón nhận nhiệt tình. Các bổn thơ như: Phạm Công – Cúc Hoa, Lâm Sanh - Xuân  Nương, Thoại Khanh – Châu Tuấn, Chàng Nhái – Kiểng Tiên, Lang Châu – Lý Ân, Thạch Sanh – Lý Thông…xưa chỉ một số người biết và kể cho nhau nghe theo kiểu “chỗ nhớ, chỗ không” thì nay đã đến tận tay mọi người trọn vẹn và chính xác nhất. Những bổn thơ ấy là món ăn tinh thần không thể thiếu của nhân dân lao động ở Khánh Hòa cho đến mãi tận những năm 50, 60 của thế kỷ trước.

Không có Nói thơ như người dân Nam bộ, người dân Nam Trung bộ đã sử dụng các làn điệu Bài chòi của mình để hát lên những truyện thơ này, dần dà hình thành nên cách “Hô Bài chòi truyện”; rồi được các nghệ sĩ hát rong ở địa phương gọt dũa, sáng tạo thêm để thành Bài chòi trải chiếu – một trong những loại hình mà ngày nay Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các tỉnh Nam Trung bộ đang thu thập tư liệu để xây dựng hồ sơ khoa học trình Unesco công nhận và đưa vào “Danh mục văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại”. Những truyện thơ dân gian  nhờ vậy mà càng đi sâu vào nhân dân Khánh Hòa hơn bao giờ hết.

Trong bối cảnh và xu hướng ấy, một số người trí thức có tâm thờ Mẫu Thiên Y cũng đã nhận ra tác dụng của của các bổn truyện thơ dân gian, đã kịp thời diễn âm những truyện thơ Thiên Y Thánh Mẫu hoặc dựa vào sự tích giáng trần của Bà để viết ra những truyện thơ, bài vãn mới nhằm phổ biến trong cộng đồng Kim Linh Chánh Giáo – một giáo phái thờ Thiên Y Thánh Mẫu ở Khánh Hòa và miền Trung – và đã được nhân dân dân Khánh Hòa tiếp nhận, trao truyền, bảo lưu cho đến ngày nay. Thế nhưng, do niềm tin về Thánh Mẫu là đấng thiêng liêng nên hầu như các truyện thơ, bài vãn về Bà đã không được các nghệ sĩ Bài chòi ở địa phương lập thành kịch mục biểu diễn mà chỉ được diễn xướng trong các cuộc lễ hay ngày vía của Bà. Có truyện thơ ngày nay đã được các tín đồ Kim Linh Chánh Giáo ở Khánh Hòa tôn vinh thành Kinh văn và là kinh nhật tụng của tín đồ.

3.

Ở Khánh Hòa, vào khoảng đầu thế kỷ 20 xuất hiện nhiều truyện thơ, Vãn ca viết để ca ngợi công đức Bà Thiên Y Thánh Mẫu, như: “Cổ tháp linh tích”, “Thiên Y Thánh Mẫu truyện ca”, “Vãn Bà”, “Thi Yên cổ tháp truyền kỳ diễn âm” và đặc biệt là truyện thơ “Sự tích Đức Thánh Mẫu Tháp Bà Nha Trang” – Kinh văn chính thức của Giáo hội Kim Linh Chánh Giáo Khánh Hòa. Nội dung của các truyện thơ, bài vãn trên đều giống với sự tích Thiên Y Thánh Mẫu do Phan Thanh Giản soạn và được khắc tại văn bia Tháp Bà Nha Trang năm 1856. Sau đây là những nét khái quát về truyện thơ, bài vãn ở Khánh Hòa.

- Sự tích Đức Thánh Mẫu Tháp Bà Nha Trang (Kinh văn Đức Thiên Y A Na Bồ Tát): Bộ Kinh văn này thực chất là một truyện thơ kể về huyền tích của Thiên Y Thánh Mẫu, được viết theo thơ song thất lục bát gồm 582 câu.. Qua cách hành văn, diễn đạt và nhất là ở hai câu cuối: “Đến đây dừng bút Kim Cơ/ Chào cùng môn đệ đến giờ phải thăng”, cho thấy bổn truyện thơ này được viết hoặc phóng tác theo “giáng bút” và cho phép ta đoán định được thời gian của truyện thơ này vào khoảng những năm đầu của thế kỷ 20 – tức thời điểm ra đời của Kim Linh Chánh Giáo.

So sánh với sự tích Thiên Y Thánh Mẫu do Phan Thanh Giản soạn thì truyện thơ này có thêm cả phần mở đầu dài 84 câu để nói về thời gian, không gian và sự ra đời của A-Na. Theo đó, xác định: “Đời nhà Đinh Việt Nam Thánh Đức/ Tại Khánh Hòa Thiên Lực chiếu phê/ Tây phương núi thảm sơn khê/ Một làng Chàm ở nương kề đỉnh cao…” và rồi “Có đôi bầu bạn vợ chồng/ Năm mươi xuân chẳng hơn hồng mới ban/ Bỗng thọ thai xóm làng cũng ngộ/ Đúng ngày giờ sanh sổ nữ nhi/ A-Na tên đặt đã ghi/ Đêm sanh Thánh nữ voi quỳ nào hay.” Năm A-Na lên bốn thì cha mất nên đời sống của hai mẹ con rất là cơ cực. Năm lên chín tuổi, một hôm mải mê tìm hái trái rừng nên bị lạc đường, A-Na lo sợ khấn cầu ơn trên giúp đỡ và lời khấn ấy đã thấu đến Quan Thế Âm Bồ Tát, Tam Tòa Thánh Mẫu. Các ngài biết A-Na Thánh nữ đang gặp tai ương bèn cậy Thái Thượng Lão Quân xuống trần cứu giúp. Thái Thượng Lão Quân đã hóa thân thành một lão nhân và đưa A-Na đến vườn dưa của vợ chồng Tiều Công. Những sự kiện, nhân vật ở các phần sau đều giống như những sự kiện, nhân vật trong huyền tích Thiên Y Thánh Mẫu của Cụ Phan Thanh Giản.

Cốt truyện của truyện thơ được kết cấu đúng với mô hình truyền thống của thể loại truyện thơ: Kể chuyện theo trình tự thời gian và kết thúc có hậu. Tuy nhiên, cũng như các truyện thơ dân gian lấy từ cảm hứng tôn giáo, như: Sự tích Đức Phật chùa Dâu, Tiên Hương Thánh Mẫu, Liều Hạnh Công Chúa diễn âm…Truyện thơ “Sự tích Đức Thánh Mẫu Tháp Bà Nha Trang” cũng đã xây dựng trên kết cấu “Xuất thân – Hành trạng – Hiển thánh”. Qua truyện thơ này chúng ta thấy rất rõ tư tưởng Phật giáo đã ảnh hưởng sâu sắc và quyết định xu hướng sáng tác của tác giả.

- Vãn Bà: Được viết theo thể thơ lục bát, dài 208 câu. Toàn văn kể lại sự tích và ca ngợi công đức của Thiên Y Thánh Mẫu. Vãn Bà được lưu hành rộng rãi trên địa bàn Khánh Hòa. Hiện nay vẫn được hát trong các buổi “Hầu Bóng” tại các Am, Điện thờ Mẫu ở Khánh Hòa. Có thể nói, Kinh văn “Sự tích Đức Thánh Mẫu Tháp Bà Nha Trang” và “Vãn Bà” là hai bổn truyện thơ, bài vãn mang đậm dấu ấn văn hóa của vùng đất Khánh Hòa nhất.

- Cổ tháp linh tích: Là một bài vãn được viết theo thể thơ song thất lục bát, dài 160 câu mang đậm tính chất trữ tình. Theo tác giả Nguyễn Đình Tư thì bài này nguyên bản bằng chữ Nôm của một tác giả khuyết danh, do ông Nguyễn Năng Lự - chuyên viên viện khảo cổ (dưới thời chính quyền Sài Gòn) sưu tầm, phiên ra quốc ngữ và ông Bửu Cầm hiếu đính. Bài này cũng được phổ biến rộng rãi trong cộng đồng tín đồ Kim Linh Thánh Giáo ở Khánh Hòa, các tỉnh Nam Trung bộ và Huế.

-  Thi Yên cổ tháp truyền kỳ diễn âm: Cũng như “Cổ tháp linh tích”, “Thi Yên cổ tháp diễn ca” là một bài vãn được viết ở thể thơ song thất lục bát, dài 108 câu. Tương truyền, bài này do một tác giả khuyết danh sáng tác và được lưu truyền ở Khánh Hòa, đến đầu thế kỷ 20 thì bị thất truyền phần sau, nên cụ Tú Tài Hán học Hoành Sơn Phan Huy Thuần tục diễn cho đầy đủ sự tích. Bài vãn này hiện vẫn được sử dụng tại các am thờ Thiên Y Thánh Mẫu trong các buổi “Hầu Bóng”. “Thi Yên” là kiểu nói lái để tránh phải gọi chính tên của Bà nhằm bày tỏ lòng tôn kính đối với Thánh Mẫu.

- Thiên Y Thánh Mẫu truyện ca: Gọi là truyện ca, nhưng thực chất tác phẩm này cũng là một bài vãn về sự tích và ca ngợi công đức của Thiên Y Thánh Mẫu, dài 206 câu song thất lục bát. Về kết cấu thì bài này và “Vãn Bà” rất gần nhau, riêng ở đoạn cuối thì bài này có nhắc đến điện Huệ Nam - một điện thờ Mẫu nổi tiếng ở Huế. Tương truyền bài này do một tác giả khuyết danh sáng tác và do cụ Ưng Lê – Giám thị chư tôn Lăng, Miếu, Điện Huế sưu tầm. Bài này hiện được phổ biến khá rộng tại Khánh Hòa và Huế.

Ngoài ra, qua khảo sát điền dã chúng tôi nhận thấy ở trong một số bổn Hò Bá trạo ở Khánh Hòa có một bài vãn kể chuyện và ca ngợi Ông Nam Hải được viết theo thể thơ lục bát và thường được hát lên trong các nghi lễ “Nghinh thủy triều” mà bà con ngư dân gọi là “Phụng nghinh hồi đình”.

* * *

Ngày nay, khi các truyện thơ dân gian một thời vang bóng như: Thoại Khanh – Châu Tuấn, Lâm Sanh – Xuân Nương, Phạm Công – Cúc Hoa đã gần như mai một, thì những truyện thơ, bài vãn về Thiên Y Thánh Mẫu và Nam Hải ở Khánh Hòa vẫn còn được bảo lưu nguyên vẹn. Mới thấy cõi tâm linh, tín ngưỡng tưởng như vô hình nhưng lại có sự vững bền hơn tất thảy./.

HPL

Tài liệu tham khảo:

1 Lê Bá Hán – Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi: Từ điển thuật ngữ văn học. Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007;

2. Đinh Gia Khánh (Chủ biên), Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn – Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2005;

3. Quách Tấn – Xứ trầm hương, Nxb Thông tin (tb),H. 1992;

4. Nguyễn Đình Tư – Non nước Khánh Hòa, Nxb Sông Lam, 1969;

5. Lê Đình Chi - Lễ hội Tháp Bà Nha Trang. Luận văn Thạc sĩ Văn hóa học, 1997.