QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

 

 

 

HÁT MỘC TRONG LỄ HỘI KỲ AN TÁ THỔ Ở NÔNG THÔN KHÁNH HOÀ XƯA

Kỳ 1

Hát xà hát mộc - gọi tắt là hát Mộc - là cách gọi nôm na trò diễn “Trảm xà phạt mộc” (nghĩa đen là chém rắn, chặt cây không cho rắn có nơi trú ẩn), một loại hình nghệ thuật dân gian trước đây từng rất phổ biến ở các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ. Ở nông thôn Phú Yên và Khánh Hoà xưa, loại hình nghệ thuật này gắn liền với “lễ cúng đất” hay còn gọi là “lễ tá thổ” thường được tổ chức vào ngày 18 tháng 3 âm lịch hàng năm.

1. Theo các cụ bô lão ở đình Phú Cang, xã Vạn Phú, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa thì ngày xưa, khi dân chúng di cư tới lập nghiệp ở đây, thường bị “ma quỷ quấy nhiễu không làm ăn được. Người ta cầu các vị thần linh lên hỏi, mới biết là vùng đất này thuộc về các vị thần linh của người Chàm (Chăm) xưa. Muốn được yênổn làm ăn thì gia chủ phải làm giấy “vay mượn đất” và “nạp lễ vật” cho chủ đất cũ. Thủ tục này được các thầy pháp thực hiện bằng một lễ cúng gọi là lễ tá thổ (chữ Hán, có nghĩa là vay mượn, thuê mướn; thổđất đai). Còn theo cụ Ngô Tạ, 80 tuổi, ở thôn Đại Mỹ, xã Ninh Thân, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa cho biết, cúng đất hay còn gọi là khao thổ, dân địa phương quen gọi là cúng lệ. Hàng năm cứ vào ngày 18 tháng 3 âm lịch là có cúng lệ. Nhà nào giàu có, cúng lớn thì thỉnh pháp sư tới làm lễ, nhà nghèo thì gia chủ tự cúng. Nếu cả làng cúng thì gọi là cầu an tống lệ,cứ 3 năm cúng một lần.

Xưa, lễ tá thổ được tổ chức ở đủ mọi cấp độ, từ gia đình đến làng xã. Ở phạm vi gia đình, năm nào gia chủ cũng cúng. Khi cúng, người ta lập bàn thờ ngoài sân, không cúng trong nhà. Nhà nào có thủ kỳ thờ Hoàng thiên Hậu thổ thì cúng nơi này. Đặt bàn cúng lệ có: bàn Bà (theo văn tế của thầy pháp, Bà đây là Cao Dương hoàng hậu Diệu Tú phu nhơn chi thần, cũng có nơi gọi là Hậu thổ phu nhơn); bàn Tổ sư(cúng tổ nghề phù thủy); bàn Hội đồng (cúng các vị thần linh, các bậc khai canh Tiền hiền, Hậu hiền…); bàn Chúa Quái (cúng vợ chồng “chủ đất” là Đào Lương Ban và Nguyễn Thị Thúc); bàn liệc (tiếng là bàn, nhưng thực tế chỉ là một hai chiếc chiếu trải dưới đất để cúng cô hồn). Lễ vật có nhang đèn, trầu rượu, trà nước, bánh trái, xôi chè, gạo muối, thịt gà (loại gà cồ giò), thịt heo, gỏi cá. Đặc biệt bàn cúng Chúa Quái có đĩa rau luộc và chén mắm nêm, đồ mã là hai chiếc gùi trong có để cái “chà dắt” (con dao đi rừng), nồi niêu… (tương truyền vợ chồng“chủ đất” là người dân tộc thiểu số bản địa ở vùng này). Riêng bàn liệc có món cháo nhão để cúng “cô hồn các đẳng” thấp cổ bé miệng, không nơi nương tựa.

Ngoài bàn thờ chính kể trên, chủ nhà phải làm hai hình nhân nhỏ bằng đồ mã để “thế chấp” và một chiếc bè bằng bẹ của cây chuối hột, trên bè có cắm cờ ngũ sắc, bánh trái, xôi chè, một miếng thịt heo, nhang đèn, gạo, muối, nước… Khi cúng tới giai đoạn “tống bè” thì gia chủ cho người mang chiếc bè chuối ra bờ sông thả trôi theo giòng nước. Chỉ những trẻ mục đồng chăn trâu lâu năm mới dám vớt bè này lên ăn.

Chủ nhà còn phải làm một cây cung và 5 mũi tên bằng tre để pháp sư thực hiện nghi thức “xạ quỷ” bắn đuổi “yêu quái” đi nơi khác. Sau khi bắn 4 mũi tên ra 4 hướng, mũi tên thứ 5 được giữ lại cùng với cây cungđem dắt lên mái nhà trên phòng trấn áp yêu quái lộng hành sau này (cũng có nơi bắn xong thì bẻ cung tên, ý là yêu quỷ đã bị trừ diệt hết, thiên hạ thái bình nên không cần dùng đến cung tên nữa).

Ở phạm vi làng xã, có thể coi lễ kỳ an tá thổ là một lễ hội văn hóa vì nó được tổ chức định kỳ hàng năm hoặc đôi, ba năm tùy theo điều kiện của địa phương. Tính chất lễ của nó thểhiện qua hệ thống nghi thức cúng tế nghiêm ngặt, tất cả đặt dưới sự hành lễ của một thầy pháp với ý nghĩa làm trung gian thực hiện các thủ tục liên hệ giữa “cõi âm” và “cõi dương”; còn tính chất hội thể hiện ở phần thứ lễ với các trò diễn dân gian (múa bóng, múa siêu, hò bá trạo), sự đông vui của nó đặc biệt đậm đà trong phần biểu diễn hát Mộc.

Từ trước ngày hành lễ, bầu không khí của xóm làng đã náo nhiệt, khẩn trương. Nhà nhà tự lo dọn dẹp nhà cửa, vườn tược sạch sẽ, quang đãng, lo sửa sang bàn thờ và chuẩn bị các phẩm vật thờ cúng. Theo sự phân công của làng, ai vào việc nấy. Người thì lo tham gia dọn dẹp khu vực hành lễ, sửa sang các miếu thờ. Kẻ lại bận chuẩn bị sắm sanh những lễ vật. Ban tổ chức lo việc đón rước thầy pháp cùng gánh hát Mộc vềlàng, cắt đặt cho nhau phận sự... Đến ngày hành lễ, đông đảo nhân dân trong làng tụ họp ở địa điểm đã quy định để xem thầy pháp thực hiện những nghi lễcúng Tá thổ.

Bàn thờ các vị thánh thần khói nhang trầm mặc bay. Trên đó là những phẩm vật cúng tế như: heo, gà, xôi, chuối, gạo, muối, nước, ngoài ra còn có 5 lá cờ ngũ sắc, 5 dải khăn trắng. Bàn thờ gồm có ba bàn: bàn giữa, bàn tả, bàn hữu.

- Bàn giữa thờ các vị thánh thần sau: Hoàng thiên thánh đế, Diệu tú phu nhân thần, Đào nương ban, Phổ thị phu nhân, Kim Liên thổ tự, Ngũ quân thần thạch, Ngũ phương thần phù, Đông phương thánh đế, Nam phương xích đế, Tây phương bạch đế, Bắc phương hắc đế, Trung ương huỳnh đế, Ngũ phương tác quái.

- Bàn tả thờ: Chủ ngung Man nương thần, Lục súc thần, Hà bá thủy quan, Long thần quản cuộc, Ngũ phương âm hồn cô hồn, Hà sa đảng chúng.

- Bàn hữu thờ: Thái giám bạch mã, Nguyễn kim quang đại vương tông thần, Bổn xứ tam vị thành hoàng, Thiên y chúa ngục. Nhị vị thái tửchâu báu tôn thần. Đại càn hoàng triệu quốc gia, Nam hải thần Chiêu linh vương, Tứ vị thánh vương tôn thần. Sơn lâm chúa xứ, Lý Nhĩ tiên sinh, Đông Nam thác hải, Lang Lại nhị đại tướng quân.

Ngoài bàn thờ chính kểtrên, còn có hai hương án khác. Một hương án để ngoài trời, trước điện thờ. Một hướng án đặt trên bè chuối thả ngoài sông lạch. Trên hương án, ngoài nhang khói, chén gạo, chén muối, chén nước là 5 lá cờ ngũ sắc, 5 dải khăn trắng, 5 con gà.

Tín chủ, bồi bái và thầy phù thủy đã sẵn sàng làm lễ cúng. Tín chủ là người thay mặt cho cả làng đóng vai chánh bái. Các vị bồi bái là mấy hương chức được làng chọn, có nhiệm vụ bái lạy theo tín chủ. Thầy phù thủy quần áo chỉnh tề, lại có dải khăn ấn trắng tinh dài ba mét rưỡi quấn cổ và quàng vai. Hai tay thầy trịnh trọng nâng hai cánh khăn.

Bắt đầu làm lễ, theo hiệu lệnh cả làng im phăng phắc. Trước bàn thờ, tín chủ, các vị bồi bái và thầy phù thủy trang trọng thực hiện nghi lễ đầu tiên,thế rồi các nghi lễ cứ nối tiếp nhau được thực hiện trong bầu không khí trang nghiêm.

- Niệm hương khởi: thắp hương

- Thỉnh tổ: Tín chủ khấn, thầy phù thủy đọc chú mời các vị thánh tổ giáng hạ chứng giám lễ và hưởng lễ vật.

- Thỉnh binh: Tín chủ khấn, thầy phù thủy đọc chú mời các vị thiên binh thiên tướng giáng hạ chứng giám lễ,hưởng lễ vật.

- Thỉnh Thành hoàng hậu thổ: Tín chủ khấn, thầy phù thủy đọc chú mời các vị Thành hoàng hậu thổ linh hiển chứng giám lễ và hưởng lễ vật.

- Khải phù sứ: Tín chủkhấn, thầy phù thủy đọc chú xin phép khai đường tá thổ.

Tiếp theo, bằng các động tác vũ đạo và đọc thần chú, thầy phù thủy thực hiện các nghi thức sau:

- Phát hịch: Phát hịch chuẩn bị đi đánh yêu quái ngũ phương, cụ thể là yêu mộc ngũ phương (Đông, Tây , Nam , Bắc và Trung ương).

- Phát lương: Phát lương cho binh tướng đi đánh yêu quái.

- Phát diêm mễ: Phát muối, gạo cho đi đánh yêu quái.

- Phát binh ngoại: Kêu gọiđẳng chúng thần về nhận lương, gạo, muối để tham gia đi tiểu trừ yêu quái.

- Phù cờ: Giương cao ngọn cờ diệt yêu quái, đem lại sự bình an cho xóm làng.

- Phù cân: Giương cao binh khí (khăn ấn) diệt yêu quái.

- Sai tướng: Điều binh, khiển tướng đi các phương đánh yêu quái.

- Xạ quỷ: Thầy phù thủy chân giẫm lên chữ “Sát quỷ”, tay cầm cung tên và bắn ngũ phương yêu quỷ. Bắn xong thì bẻ cung tên (ý là yêu quỷ đã bị trừ diệt hết, thiên hạ thái bình nên không cần dùng đến cung tên nữa).

Sau lễ xạ quỷ là màn “Xuất tam Thánh diệt Hoả linh”. Màn này không còn mang nặng tính chất “lễ” mà đã mang đậm tính chất “hội”, đã được nghệ thuật hóa. Có thể tóm tắt màn “Xuất tam Thánh”như sau:

- Diễn viên đóng vai ông Địa (hóa trang như ta thường thấy trong trò “Múa sư tử” ngày nay) ra sân diễn, hát xưng danh, nói dăm ba câu về việc cần mời Tam Thánh (Tề, Huyền, Đô) giáng trần diệt trừ yêu quái. Xong thì vào.

- Diễn viên đóng vai Tề Thiên Đại Thánh (Tôn Ngộ Không) ra sân diễn múa hát xưng danh v.v...

- Diễn viên đóng vai Huyền thiên Chân Vũ ra sân diễn múa hát xưng danh v.v...

- Diễn viên đóng vai Đô thiên đại tướng ra sân diễn múa hát xưng danh v.v...

- Tam thánh múa may đi tìm đánh yêu quái.

- Hoả linh (hiện thân của yêu mộc) ra sân diễn múa hát xưng danh v.v...

- Tam Thánh và Hoả linh gặp nhau, cự chiến. Hoả linh thua, bỏ chạy lòng vòng. Tề Thiên Đại Thánh hóa phép ra ngọn đuốc cầm tay, soi đường cùng hai vị thánh kia truy đuổi Hoả linh. Tìm được Hoả linh, Tề Thiên Đại Thánh tay giương cao binh khí và ngọn đuốc hát. Hát xong thì giáng binh khí xuống Hoả linh. Hoả linh bị trọng thương, lê lết, thán oán. Thán oán xong thì lết ra khỏi sân diễn.

Nguyễn Man Nhiên

xem tiếp kỳ 2

Bài liên quan