QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

Bài cùng tác giả

- Hò cấy lúa ở Ninh Hòa

- Hòn Hèo quê tôi

- Cáng Trường

- Hát đưa con - Điệu hát ru Ninh Hòa (kỳ 2)

- Hát đưa con - Điệu hát ru Ninh Hòa (kỳ 1)

- Địa danh cũ ở Thị trấn Ninh Hòa

- Những chuyện vui "Ông cọp" ở Ninh Hòa

- Hương vị quê hương Ninh Hòa

- Câu đố dân gian Ninh Hòa (kỳ 3)

- Câu đố dân gian Ninh Hòa (kỳ 2)

- Câu đố dân gian Ninh Hòa (kỳ 1)

- Mùa xuân bắt chuột

 

 

 

 

DÂN NINH HÒA KỂ CHUYỆN XƯA:

SỰ TÍCH LÀNG TÂY ĐÁNH

 

 

Ở Ninh Hòa có làng “Đánh Tây” tên gọi Bình Tây, thuộc phường Ninh Hải. Vào  năm 1886, nghĩa quân Trịnh Phong đồn trú  nơi này đánh Pháp và bị bắt ở đó, nên có tên như thế. (Trịnh Phong được gọi Bình Tây Đại Tướng). Nhưng cũng có làng nghĩa ngược lại “Tây Đánh”, đó là Mông Phú, thuộc xã Ninh Trung. Nguyên do Tây đánh như thế nào, xin xem tiếp phần sau:

Nguyên làng Mông Phú gồm 2 xã thôn hợp nhất lại: Đó là Phú Định xã và Gò Muồng thôn (Hồi đó làng lớn gọi là xã, nhỏ gọi thôn) thuộc tổng Thượng, huyện Quảng Phước, Phủ Thái Khang, Dinh Thái Khang.(1)

Đến thời vua Tự Đức, Phú Định xã và Gò Muồng thôn nhập lại thành thôn Mông Phú, thuộc Tổng Phước Thiện, Huyện Quảng Phước. Theo Hán Việt tự điển của Thiều Chửu: chữ "mông" 檬 có bộ mộc bên trái, để chỉ một loại cây, cho nên để viết chữ "muồng" (cây muồng), đã mượn chữ mông này. Gò Muồng là vùng đất có nhiều cây muồng, gỗ màu đen rất chắc, nhất là đặt ở nơi ẩm ướt, thường dùng để làm cột nhà, cầu cống. Như thông lệ, tên làng mới lấy mỗi làng một từ, như làng Tân Xuân với Dục Mỹ thành Tân Mỹ, Nghi Xuân với Đồng Thân thành làng Đồng Xuân... Ở đây lấy từ muồng nhưng chữ Hán đọc là mông trong Gò Muồng thôn 塸 檬 và từ phú trong Phú Định xã 富 定 ghép lại tên làng mới: Mông Phú 檬 富

Đến năm 1946, nhập Tổng Phước Thiện (trong đó có làng Mông Phú) vào Ninh Hòa.

Vì làng có tên Mông Phú nên mới bị Tây đánh.

Vào đầu năm 1946 (Chiều 30 tết, Bính Tuất), Lính Pháp từ Buôn Ma Thuột theo quốc lộ 26 xuống tái chiếm Ninh Hòa. Sau khi đến Dục Mỹ, một cánh quân  rẽ ra Đồng Hương (Ninh Thượng) theo đường đất xuống Ninh Hòa. Khi đến đoạn đường luồng Mương Cái (giáp ranh làng Mông Phú và Đại Tập). Ở đây không có cầu, mà đi hụp xuống dưới sông, ở trên và xung quanh cây cối rậm rạp. Lính Pháp sợ không dám đi qua mới kêu dân làng lại hỏi, nơi này là đâu? Tên làng gì? Ai cũng trả lời: Mông Phú. Thì bị đánh đòn. Có người sợ hãi bỏ chạy chúng bắn bị thương, bắt được thì khảo tra đánh đập. Bọn chúng còn đốt một số nhà dân. Theo các cụ cao tuổi kể lại gần một phần tư dân làng bị đánh đập dã man, kể cả đàn bà, con nít. Số còn lại phải chạy lên núi trốn, xóm làng tan tác trong ngày tư ngày tết. Vì thế mới có tên làng “Tây Đánh”.

Cũng theo các cụ kể lại: Đoàn lính Pháp này mới sang, chưa có thông ngôn người Việt theo. Vì bất đồng ngôn ngữ, do nghe phát âm từ Mông Phú, trùng âm với M' en foutre có nghĩa bất cần (tiếng lóng, tục), cho nên lính Pháp ghét. Sau đó nhờ có ông Thầy giáo làng đến nói: Le village de Mông Phú, (làng  tên Mông Phú) mới hết đánh. Tuy biết Mông Phú chỉ là tên làng, nhưng sau đó người Pháp khi nghe nói tới Mông Phú cũng có nhiều ác cảm, dân làng thường bị đánh đòn roi phạt vạ. Từ đó mới “chết” tên Mông Phú là làng “Tây Đánh”. Không biết có phải tên làng mang ý nghĩa không tốt, xui xẻo, mà sau đó người ta đổi tên thành Ba Mương?

Chuyện thật bi hài này, xảy ra trong đêm giao thừa cách đây vừa bảy mươi năm. Nhắc lại làng “Tây Đánh”, có cụ còn sống hóm hỉnh nói: “Tổ cha thằng Tây! nhờ nó  tao có tên Tây “hăng rết”. Nói xong cụ cười hể hả không có răng!

Đỗ Độ

Ghi chú:

(1): Trang 121 và 123 sách địa bạ triều Nguyễn, phần tỉnh Khánh Hòa, bản dịch Nguyễn Đình Đầu.

Phần trên là ảnh trang sách Địa bạ triều Nguyễn, phần dưới là những chữ muồng, mông, phú.