QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

 

 

 

HÁT MỘC TRONG LỄ HỘI KỲ AN TÁ THỔ Ở NÔNG THÔN KHÁNH HOÀ XƯA

Kỳ 2

Trong lễ Tá thổ, sau màn “Xuất tam thánh” là đến phần thứ lễ. Đây là phần biểu diễn nghệ thuật phục vụ thần linh - xem như phần “hội” của lễ hội. Diễn thứ lễ được nối kết bởi hai phần. Phần thứ nhất là các trò múa bóng, múa siêuhò bá trạo. Phần thứ hai là trò hát Mộc, diễn tích vua Tống Chân Tông cầu an, mượn đất đuổi yêu quái.

Múa bóng - còn gọi là múa dâng bông - là một phần trong hệ thống múa lục cúng của người Việt ở phương Nam . Múa bóng là một loại hình nghệ thuật múa của người Chăm phục vụ cho nghi thức tế lễ, đã được người Việt tiếp thu và Việt hóa dần theo thời gian. Người múa toàn con gái, áo xiêm rực rỡ. Trên đầu mỗi vũ công đội chiếc mâm, trên mâm đặtđèn hoặc hoa chồng cao như ngọn tháp. Vũ nữ múa theo điệu đàn, điệu trống. Chẳng những đôi tay đôi chân luôn luôn cử động, vừa dẻo vừa mềm mà đầu và thân cũng luôn ngửa nghiêng, uốn lượn theo bước chân, nhịp tay rộn ràng, đều đặn. Đèn và hoa đội trên đầu không vịn, không đỡ mà vẫn không hề dịch, dường như được những bàn tay vô hình nâng đỡ. Cảnh tượng ngoạn mục linh thiêng, ảo diệu. Tất cả như đều dâng lên để hiến tế thánh thần .

Múa Siêu là một điệu múa dùng siêu (một loại binh khí thường dùng cho các vị tướng khi cầm quân ra trận) làmđạo cụ để múa. Bởi vậy, vũ công thường chỉ do nam thanh niên đảm trách. Múa Siêu làđiệu múa tôn thần, tôn vinh công đức của Thái Thượng Lão Quân - vị đại tiên của chốn Thiênđình. Truyền thuyết dân gian kể rằng: “Trần gian loạn lạc, yêu quái lộng hành phá hoại mùa màng, tàn sát muôn dân làm cho sinh linh vô cùng đói khổ. Vâng lệnh Ngọc Hoàng, Thái Thượng Lão Quân thống lĩnh chư Tiên xuống hạ giới trừyêu, cứu nạn lê dân. Thái Thượng Lão Quân lập trận đồ bát quái thu phục hết thảy yêu quái ”. Điệu múa Siêu là sự biểu thị uy vũ của trận đồ bát quái. Sự chuyển đảo đội hình múa, sự sắp xếp các thanh siêu theo các mẫu tự, hình khối, chính là huyền pháp biến ảo của trậnđồ bát quái .

Trong lễ cúng kỳ an tá thổ tại huyện Vạn Ninh, thay vì lập trận đồ bát quái thì các vũ công trong điệu múa Siêu đã múa và xếp hình với bốn chữ Hán “Thiên Hạ Thái bình”.Theo chúng tôi, đó là sự chuyểnđổi trong tâm thức của nhân dân từ một điệu múa nhằm tôn vinh các đấng thần linh ở chốn Thiên Đình thành ước mong cuộc sống bình an nơi cõi thế.

Hò Bá Trạo cũng là một trò diễn trong lễ kỳ an tá thổ. Đây là trò diễn tôn vinh công đức của “Ông Nam Hải” - tức cá voi, vốn hiền lành, thường cứu người gặp nạn trên biển, đãđược vua Gia Long sắc phong tước “Nam Hải cự tộc thượng đẳng thần”.Diễn viên hò Bá Trạo đều là nam. Người cầm chèo gọi là trạo phu. Những trạo phu đứng xếp thành hình chiếc thuyền. Trên khoang thuyền có Tổng lái, Tổng thương Tổng mũi. Các trạo phu vừa hò, hát vừa làm động tác chèo thuyền ra khơi, nội dung điệu hát tập trung ca ngợi côngđức của “Ông Nam Hải”, qua đó cầu trời yên, biển lặng, ngư dân được mùa cá, cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Hát mộc là trò diễn dân gian được ghi thành bài bản hẳn hoi, với các chỉ dẫn về nghi thức tế lễ, về nội dung đối tượng cầu đảo, một kịch bản trò diễn với những nhân vật cụ thể, với những pha phù phép điều binh khiển tướng, cùng với nhiều trò vui chơi hội hè múa hát được tập hợp thành một tuồng tích hoàn chỉnh. Chẳng những thế, nó đã được các nghệnhân dân gian gia công tập luyện, làm thành những ngón nghề biểu diễn điêu luyện, có tính chiến đấu, tính hấp dẫn cao.

2. Năm 1987, Nhà hát Tuồng Phú Khánh (nay là Nhà hát Tuồng Khánh Hoà) sưu tầm được ở huyện Vạn Ninh một văn bản Hán - Nôm có tên là “Diễn tích Chân Tông kỳ an tá thổ khu mộc cổ truyền ca” (tạm dịch: Bài ca cổ diễn tích vua Tống Chân Tông cầu an, mượn đất, đuổi yêu mộc). Tuy có thể ước đoán rằng thời xa xưa từng có nhiều vở hát Mộc nhưng đây là lần đầu tiên các nhà nghiên cứu đã sưu tầm được một “kịch bản” có thể nói là hoàn chỉnh của nghệ thuật hát Mộc. Theo dịch giả Bùi Hữu Hồng - người đã dịch nguyên tác ra tiếng Việt - thì đến nay kịch bản này đã tồn tại được hơn ba giáp, ước tính khoảng gần hai trăm năm.

Kịch bản này do cụ Lê Huấn (đã mất năm 1995), quê ở làng Cát Ném, nay là thôn Hiền Lương, xã Vạn Lương, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa cung cấp. Cụ Lê Huấn là người có trình độ Nho học, đọc thông, viết thạo. Nghề nghiệp chính của cụ là thầy pháp. Gia đình cụ đã ba đời làm nghề này, bắt đầu từ đời ông nội cụ. CụHuấn không chỉ là một thầy cúng mà còn là một nghệ nhân giỏi, có thể thể hiện tất cả các vai trong trò diễn hát Mộc. Qua cụ, ta được biết nghệ thuật hát Mộc gắn liền với nghi thức phù thủy. Hát Mộc chỉ diễn trong ngày lễ tá thổ ở các làng xã.

Có thể tóm tắt nội dung kịch bản hát Mộc do cụ Lê Huấn cung cấp như sau: “Dưới thời vua Tống Chân Tông, ở quận Giải Châu, không hiểu vì sao đã ba năm liền các ruộng lúa và ruộng muối đều bị khô kiệt nước, khiến nông vụ thất thu, nhân dân lầm than, ca thán. Vua Tống sai quan Gián nghị là Vương Khâm lên đường đến miếu Thần Nông để cầu mưa. Trong khi đó, thần Thổ Địa đi tuần tra, bị yêu mộc là Mang Vưu Lang chặn đường. Biết được Mang Vưu Lang cùng bè đảng của nó tận thu nước ruộng, Thổ Địa đánh nó chạy dài, rồi về miếu Thần Nông kể sự tình. Mang Vưu Lang thua chạy về báo tin cùng Mang Vưu Hổ. Nguyên xưa, Mang Vưu Hổ bị Tống Tổ là Hiên Hoài đánh giết rồi lấy đất Giải Châu mà khai phá, lập diêm trì điềnđịa; cho nên nay Mang Vưu Hổ mới cùng bè đảng đến Giải Châu tận thu nước ruộngđể trả thù và chiếm cứ lại đất đai. Được Mang Vưu Lang báo tin dữ, Mang Vưu Hổlập tức kéo binh tướng đến miếu Thần Nông, đánh Thần Nông và Thổ Địa thua chạy, rồi chiếm cứ miếu. Trên đường đến miếu Thần Nông, Vương Khâm gặp Thổ Địa đón đường cho biết sự tình, nhưng vẫn quyết đến miếu. Tới nơi thì bị Mang Vưu Hổbắt quay về tâu Tống Vương triệt phá điện thờ Tống Tổ Hiên Hoài và thuận cho nó làm Thần Nông cai quản đất Giải Châu. Vương Khâm không nghe, bị giết chết. Thổ Địa cải tử hoàn sinh cho Vương Khâm, bảo về tâu vua cầu thiên tướng xuống trừyêu mộc. Vương Khâm về tới triều đình, tâu rõ sự tình và được vua Tống sai lên chùa Ngọc Truyền Sơn, cầu được thánh Cao Công giáng trần cùng các thánh khác là Tề Thiên Đại Thánh, Vĩ Lang đại tướng đô thiên, Huyền thiên Chân Vũ. Cao Công và các vị thánh kể trên đi đánh, bắt được Mang Vưu Hổ, đày đi nơi xa. Yêu quái Hỏa Linh xuất hiện, phun lửa đốt chết Vĩ Lang để trả thù cho Mang Vưu Hổ. Thổ Địa cải tử hoàn sinh cho Vĩ Lang. Thần Nông về lại miếu cũ rồi cùng Thổ Địa xuống Đông Hải Long cung xin Thánh mẫu Thủy Triều cho nước lên đồng ruộng Giải Châu. Thánh mẫu Thủy Triều mở hội chiếu tinh đăng dẫn nước lên. Đất Giải Châu thái bình, dân chúng từ đấy an cư lạc nghiệp”.

Xét về kết cấu, kịch bản này khá dài (gồm 23 lớp) nhưng kết hợp với nhau rất chặt chẽ, hợp lý. Nội dung câu chuyện hấp dẫn, có đầu, có cuối, thực chất là nghệ thuật hóa - dưới hình thức yêu thoại và mượn chuyện Trung Quốc - cuộc chiến đấu quyết liệt của lương dân chống lại cái Ác thông qua việc diệt trừ “yêu mộc”, phản ánh sinh động cuộc đấu tranh chinh phục tự nhiên của ông cha ta thời kỳ khai sơn phá thạch, mở mang đất mới.

Có bốn loại nhân vật xuất hiện trong trò diễn, gồm:

1. Các đấng thần linh như Thánh Cao Công và hai bộ tướng là Quan Bình và Châu Xương, Thái Thượng Lão Quân, Cửu Thiên Huyền Nữ, Tề Thiên đại thánh, Huyền Thiên chân vũ, Đô thiên đại tướng, Linh Quang Thổ Địa, Thanh Đồng, Vĩ Lang tướng hổ, Ngũ vị tiên nương.

2. Những thế lực hung ác như “Ngũ phương yêu mộc”hiện thân thành Hỏa Linh (hay còn goi là Xích xà), Thanh xà, Bạch xà, Hắc xà, Huỳnh xà. Bên cạnh năm con rắn độc là hai anh em ác quỷ Mang Vưu Lang, Mang Vưu Hổ.

3. Những người có quyền lực nơi hạ giới như Tống Vương, lão quan Vương Khâm và các quan, quân triều đình.

4. Đại diện chúng dân là những người nghinh rước Thủy Triều, hò bá trạo gồm Tổng Thương, Tổng Lái, Tổng Mũi và các trạo phu…

Về mặt âm nhạc, trong hát Mộc có 13 điệu hát, gồm: Nói lối, Bạch, Xướng, Phú, Thán, Khách, Tẩu , Nam ( Nam ai, Nam xuân, Nam lụy), Loạn (Loạn đả, Loạn chạy), Chiếu tinh đăng (hát múa đèn), Hát đò đưa, Hò bá trạo, Thần chú. Như vậy hầu hết các làn điệu của nghệ thuật Tuồng (hát Bộ) đều thấy xuất hiện trong hát Mộc, nhưng ở đây - như nhận xét chung của các nhà nghiên cứu - chất bác học, cổ điển của làn điệu mờ nhạt đi, còn chất dân gian hiện lên rõ nét, đậm đặc hơn. Nghệ nhân thể hiện các điệu hát Mộc ít luyến láy hoa mỹ, ngữ khí nặng nề; cái hay là rõ lời, rõ chữ nhưng chưa thể so sánh với sự điêu luyện, tinh xảo của hát Tuồng. Các động tác múa trong hát Mộc tuy vẫn là tương, ,xoan, cầu, khán, lỉa, ,xiến của vũ đạo Tuồng nhưng đơn giản hơn, thô hơn, mộc mạc hơn.

Điểm độc đáo trong hát Mộc là sự có mặt của thần chú. Thần chú vốn là lối hát của các thầy phù thủy dùng để “làm phép”, “triệu hồn”,“triệu âm binh”, trừ khử tà ma, quỷ quái. Trong trò diễn hát Mộc, các nhân vật như Vương Khâm, Vĩ Lang, tam thánh Tề - Huyền - Đô, Thổ Địa... đều vâng lệnh Trời xuống thế gian để trừ khử Ngũ phương yêu mộc cứu khổ cho loài người. Từ phái chính đến phe tà đều có quyền phép cao siêu, trong đó thần chú là một trong những vũ khí đối đầu giữa hai thế lực. Do đó thần chú tồn tại trong hát Mộc là điều hợp lý.

Nhìn chung, nghệ thuật hát Mộc rất gần gũi với nghệ thuật Tuồng: phong cách ước lệtượng trưng rõ nét, lớp lang biểu diễn tương tự, có chung các làn điệu và vũbộ. Cũng theo lời các nghệ nhân hát Mộc, hóa trang, phục trang, đạo cụ, nhạc cụcủa hai loại hình nghệ thuật trên đều giống nhau. Nếu đi sâu nghiên cứu sựgiống nhau và khác nhau giữa nghệ thuật hát Mộc và nghệ thuật Tuồng, chắc sẽ có nhiều gợi ý hay về quá trình hình thành và phát triển của sân khấu truyền thống.

Có thể nói hát Mộc là trò diễn dân gian mang tính tổng hợp cao. Ngoài hát, múa, diễn xuất, hát Mộc còn sử dụng cả ngón nghề phù thủy với những pha phù phép, lập trận đồ, điều binh khiển tướng… So với hát Bộ, hát Mộc coi trọng tiết tấu, nặng về mặt vũ đạo và phát huy mạnh tính hài hước, do đó có sức hấp dẫn và phổcập đối với đông đảo quần chúng nhân dân.

3. Xưa kia, hát Mộc chỉ diễn trong ngày lễ tá thổ ở các làng xã. Do những đặc điểm riêng, nghề hát Mộc hầu như chỉ được lưu truyền trong nội bộ gia đình. Thành phần diễn viên của các gánh hát Mộc hầu hết là con em, thân thích trong nhà, trong họ của các thầy pháp. Đa số các thầy dạy nghề theo cách truyền khẩu, chỉ một số ít các thầy có chữ nghĩa mới ghi chép thành sách vở để lại. Vì vậy khi các thầy pháp không còn được phép hành nghề, lễ tá thổ không còn được tổchức thì hát Mộc cũng mai một. Hơn nữa, một khi những tài liệu liên quan đến hát Mộc bị xem là loại sách “mê tín dị đoan” thì con cháu các thầy cũng không dám tàng trữ khiến nghề hát Mộc bị thất truyền. Hiện nay, nghệ thuật hát Mộc và nghi lễ cúng tá thổ hầu như chỉ còn trong ký ức chắp vá của một số con em, thân thích các thầy phù thủy hết thời.

Trò diễn hát mộc trong lễ kỳ an tá thổ của người Việt ở nông thôn Khánh Hòa xưa đã ra đời từ dân gian và được lưu giữ trong dân gian hằng bao đời nay. Nó không chỉ thể hiện một mảng rất riêng đời sống văn hóa tinh thần của người dân ở vùng đất cực Nam Trung bộ đầy nắng gió này mà còn góp phần tạo nên diện mạo văn hóa Việt Nam trong sự đa dạng và thống nhất. Gìn giữ,nghiên cứu và phát huy những tinh hoa của nghệ thuật hát mộc - một vốn quý trong di sản văn hoá phi vật thể của Khánh Hoà - vào cuộc sống đương đại với ý thức “gạn đục khơi trong” chính là việc làm chính đáng và cấp thiết.

Nguyễn Man Nhiên

Bài liên quan