QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

 

 

 

THỊ XÃ NINH HÒA GHI DẤU ĐỊA DANH QUA CA DAO KHÁNH HÒA

 

 KỲ 1

Từ thành phố Nha Trang, về hướng bắc, vượt đèo RÙ RÌ, đèo RỌ TƯỢNG đến thị xã Ninh Hòa thưởng thức món nem Ninh Hòa nổi tiếng:

RÙ RỲ đường uốn chữ chi

Anh lên đèo cho khéo

Kẻo nữa có đi không về

Đèo RÙ RÌ là đèo cuối cùng trên quốc lộ 1A và cũng là đèo cuối cùng của miền Nam Trung bộ, của cả tỉnh Khánh Hòa. Đèo nằm trên đỉnh HÒN KHÔ, cao chừng 84 m, uốn lượn chữ “chi” khoảng 2 km. Có những chỗ khúc quanh rất gấp, rất nguy hiểm, nên tại đèo thường xảy ra tai nạn. Vì thế, đi trên đèo thấy có nhiều thủ kỳ để thờ cúng những người bị tai nạn chết trên đèo và cũng là để cảnh báo cho các lái xe nên thận trọng khi qua đèo. Năm 2013, một con đường dốc song song với đèo Rù Rì đã được đưa vào sử dụng, tránh được cho những hiểm nguy khi qua đèo. Tên đèo là RÙ RÌ, có người cho rằng vì trên núi có nhiều cây rù rì. Có người lại cho rằng vì đường đèo khó khăn, nguy hiểm nên ngựa xe qua lại phải đi chầm chậm. Đi như vậy, tiếng địa phương gọi là đi rù rì. Vì đường đèo nguy hiểm, nên có câu ca trên. Tên đèo Rù Rì còn được hiểu rằng một kỹ sư người Pháp tên Rury sửa sang cho đường sá dễ đi. Từ tên Rury, người Việt đã phát âm thành Rù Rì.

Qua đèo RÙ RÌ, lại phải qua đèo RỌ TƯỢNG, phía bắc đèo Rù Rì. Dân địa phương có câu đố:

Rừng nhiều voi cọp hung hăng

Mẹ Thiên Y A Na

Dạy làm rọ bẫy, đón ngăn các loài

Nhân dân nhờ được khỏi tai

Ăn no mặc ấm, trong ngoài vững yên.

Lời giải đó là đèo RỌ TƯỢNG. Đèo RỌ TƯỢNG. “Rọ” là một dụng cụ nhốt gia súc khi vận chuyển, đan bằng tre, hình thuôn dài. Vùng Khánh Hòa nhiều thú dữ như voi, cọp, nên Bà Thiên Y A Na dạy dân làm rọ bắt thú dữ cho cuộc sống được an lành. “Tượng” là voi, vì sợ nên kiêng, phải gọi lệch đi. Rọ bắt voi đây là cách nói làm bẫy đào hầm để bắt voi, cọp. Đèo trên núi Rọ Tượng (còn gọi là HÒN GIỐC THƠ, núi ĐÁ VÁCH), phía bắc đèo thuộc thôn Tân Thủy, xã Ninh Lộc, thị xã Ninh Hòa, phía nam đèo thuộc thôn Phú Hữu, xã Ninh Ích, cũng thuộc về thị xã Ninh Hòa. Trước kia, đèo là ranh giới giữa huyện Ninh Hòa và huyện Vĩnh Xương. Đèo còn có tên là đèo RUỘT TƯỢNG vì đèo quanh co và rộng ở khúc giữa giống như ruột con voi. Đèo dài không đến 2 km, dưới đường đèo là hầm xe lửa. Đứng trên đèo ngó xuống phía bắc thấy những mái nhà lô nhô, xa xa là vùng biển của đầm Nha Phu.

Thị xã Ninh Hòa có con sông Cái Ninh Hòa chảy qua, là 1 trong 2 con sông lớn của tỉnh. Sông Cái Ninh Hòa còn gọi là sông DINH. Tên gọi sông DINH vì thời Chúa Nguyễn, dinh Thái Khang đóng bên bờ sông, nay là phường Ninh Hiệp, thị xã Ninh Hòa. Đây là nơi làm việc của quan Thái Thú dinh THÁI KHANG, sau này đổi thành dinh BÌNH KHANG, có quan Trấn Thủ. Sông Dinh có 3 nguồn: Sông Lốt, sông Ðục (hay sông Ðá) và sông Cái, bắt nguồn từ núi Vọng Phu (cao 2051 m), núi Đa Đa (cao 1709 m) chảy ra cửa biển Hà Liên, đầm Nha Phu, dài độ 51 km tính từ núi Vọng Phu đến cửa Hà Liên. Ca dao có câu :

SÔNG DINH có ba ngọn nguồn

Nhớ em, anh băng ngàn vượt suối

Nhưng không biết đường đến thăm em

Ghé vô CHỢ NINH HÒA

Mua một xâu nem

Một chai rượu trắng

Anh uống cho say mèm

Để quên nổi nhớ nhung

Rượu không say, anh nghĩ lại ngại ngùng :

Con gái mười hai bến nước

Biết em thủy chung bến nào ?

 

Nhắc đến Ninh Hòa là nhớ đến nem Ninh Hòa, một loại đặc sản nổi danh:

 

Đi đâu vẫn nhớ Khánh Hòa

Nhớ biển Nha Trang gió mát, nhớ NINH HÒA nhiều nem.

Ngoài nem, Ninh Hòa còn có đặc sản: Vịt lội NINH HÒA. Ninh Hòa có nhiều rộng đồng, sau mùa gặt vịt được thả trên các cánh đồng ăn lúa rơi rụng, ăn cá tôm tép nên thịt vịt Ninh Hòa béo, mềm, ngon nổi tiếng.

Thị xã Ninh Hòa lại:

…. có núi có non

Có sông có biển, có hòn VỌNG PHU

Có HÒN KHÓI, có HÒN DÙ

Có LĂNG BÀ VÚ, có TIÊN DU, HÒN HÈO

Hòn VỌNG PHU NINH HÒA là dãy hình cánh cung, mặt lồi quay về phía tây bắc, trước 1975 thuộc huyện Khánh Dương, tỉnh Khánh Hòa, nay thuộc huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk. Núi cao 2.051m, hình giống người con gái ôm con đợi chồng. Từ trung tâm thị xã Ninh Hòa cách xa trên 30 km nhưng vào những ngày đẹp trời vẫn nhìn thấy núi Vọng Phu rất rõ. Có vài truyền thuyết về người vợ ôm con đợi người chồng ra đi không bao giờ trở lại, qua thời gian dài người vợ và đứa con hóa đá mà đa số người dân Ninh Hòa ai cũng biết.

Về địa danh HÒN KHÓI, là tên núi nằm cách trung tâm thị xã Ninh Hòa, khoảng 10 km về hướng đông bắc. Sách ĐNNTC-KH chép là núi TÂN LẬP, cũng có tên là VÂN PHONG vì: “Vũng biển Vân Phong ở gần phía đông, cho nên cũng gọi là núi Vân Phong“. Thời Pháp thuộc, người Pháp gọi vùng HÒN KHÓI là Hone-Cohé. Người Pháp có cho xây một ngôi nhà lầu bề thế nhất thời bấy giờ có tên là Douanes et Régies de Hone-Cohé (Sở Thương Chánh Hòn Khói, dân thường gọi Sở Đoan, nay gọi là Lầu Ông Hoàng) ở  Đông Hòa, phường Ninh Hải. Trải qua nhiều cuộc chiến tranh, ngôi nhà đã bị hư hại nặng nề.

Tên HÒN KHÓI có nhiều giả thuyết: Có thuyết cho rằng, khi có giặc cướp biển, dân lên đỉnh núi đốt lửa cho khói lên cao để quan sở tại biết đem quân ứng cứu. Có thuyết cho rằng, thời Nguyễn Ánh đánh nhau với nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh đóng quân ở đây và trên núi có trại canh. Khi quân Tây Sơn từ đường biển kéo quân đến thì quân canh đốt lửa làm hiệu. Có thuyết cho rằng vùng núi này là vùng núi lửa đã nguội. Khi có động đất, khói ở núi này bay ra, người xưa đặt tên là Hòn Khói.

Ngày nay, Hòn Khói có 3 phường: Ninh Hải, Ninh Diêm, Ninh Thủy Ninh Phước thuộc thị xã Ninh Hòa, nằm dưới chân dãy núi HÒN HÈO. Dân ở đây tuy gần biển, nhưng chỉ có một số ít làm nghề cá, còn đa số làm nghề muối. Trừ xã Ninh Phước không làm muối, dân đánh bắt hải sản, chăn nuôi, làm vườn, người dân các phường còn lại đều làm muối, nhiều nhất là ở phường Ninh Diêm.

Về HÒN KHÓI, còn có câu:

 

Ai về HÒN KHÓI quê tôi

Non xanh nước biếc, muối ngời trắng trong.

Hay:

Chàng về HÒN KHÓI chi lâu

ĐỒNG HƯƠNG thiếp dựa hàng cau trông chừng

Hai hàng nước mắt rưng rưng

Nghĩa nhơn mới được nửa chừng thì dong …

Trong câu hát đối nam nữ:

Nữ:

... Đường về HÒN KHÓI dặm xa

Thiếp xin chàng hãy nhớ cho

Gừng cay muối mặn chớ mà quên nhau

Chàng về HÒN KHÓI CHI lâu

ĐỒNG HƯƠNG thiếp dựa hàng cau trông chừng

Nam:

HÒN KHÓI xa xăm qua lên chưa đặng

Nhắn về ĐỒNG HƯƠNG trước dặn sau thăm

Đường lại cát nhỏ lăm tăm

Phải duyên trời định bao nhiêu năm qua cũng chờ

Chờ qua nàng cố công chờ

Chờ như rau muống trèo bờ ra bông

Giữa HÒN KHÓI và ĐỒNG HƯƠNG có sự gắn bó nhau, một bên là vùng biển, một bên là vùng đồng bằng gần núi, một bên sản xuất muối, một bên sản xuất lúa, nên có câu:

Muối HÒN KHÓI, ruộng ĐỒNG HƯƠNG

Tên nguyên thủy của xứ Đồng Hương là Chiêm Dân Đồng Hương, căn cứ theo những đơn ruộng viết tay vào các triều Lê Cảnh Hưng thứ 11 (1750), Thái Đức thứ 9 (1783)... mà cư dân làng văn hóa Đồng Thân còn lưu giữ. Đây là một vùng sâu vùng xa ở mặt trên của xã Ninh Thượng cũ, về hướng tây bắc thị xã Ninh Hòa, cách trung tâm thị xã khoảng 20 km. Mặt nam án ngữ dãy núi Tân Phong chạy dài từ cánh tây xuống đông. Mặt bắc dựa lưng vào núi Vọng Phu. Xứ Đồng Hương đã từng là nơi cộng sinh giữa các dân tộc Chăm, Êđê và người Kinh trong các thời kỳ lịch sử thời mở đất.

Chữ Hán Việt “Đồng” trong địa danh Đồng Hương có nghĩa là “cùng”, chữ “Hương” có nghĩa là “mùi thơm”. Vậy “Đồng Hương” nghĩa là cùng chung mùi thơm. Đây là mùi thơm của các giống lúa gạo đặc sản nổi tiếng bao đời nay của xứ Đồng Hương.

Khu vực xã Ninh Thượng ngày nay gồm các thôn Tân Lâm, Đồng Thân, Đồng Xuân, Tân Tứ, Tân Hiệp, Thôn 1, Thôn 2 và Khu Dân cư Đồi Đỏ là vùng Đồng Hương ngày xưa.

Tại xóm Rượu, làng Mỹ Hiệp, huyện Tân Định ngày xưa, nay là phường Mỹ Hiệp thị xã Ninh Hòa có một công trình gọi là lăng do vua Gia Long cho xây vào năm 1804 để tưởng nhớ đến người phụ nữ đã có nhiều công lao giúp đỡ tướng sĩ khi nhà vua còn giao tranh với Tây Sơn chạy trốn về làng Mỹ Hiệp này. Người phụ nữ được vua truy phong tước hiệu Nhũ Mẫu tức là Bà Vú, vì không rõ tên tuổi của Bà, nên lăng được gọi là LĂNG BÀ VÚ. Nhà vua còn cho cấp ruộng hương hỏa, hàng năm dùng cúng tế cho Bà. Hàng năm, đến ngày giỗ Bà (ngày 16 tháng Chạp âm lịch), khi xưa, Tuần phủ Khánh Hòa thay mặt triều đình cùng quan chức địa phương đứng ra làm chủ tế. Lăng xây theo hình chữ Quốc, mặt lăng hướng về phía đông nam. Lăng có 3 lớp thành, có án phong. Khu mộ có thành rộng 9 m, dài 12 m, cao 1,2 m hình vòm cung. Có tấm bia khắc chữ Hán đã lu mờ. Hiện nay, Lăng đã được tu sửa lại mới, đẹp đẽ hơn. Lăng được công nhận di tích lịch sử cấp Quốc gia năm 1991.

Ninh Hòa còn có núi TIÊN DU, HÒN HÈO, HÒN DÙ.

Núi TIÊN DU là một trong 3 ngọn núi cao nhất của dãy núi Phước Hà, cao 777 m nằm trên thôn Tiên Du, xã Ninh Phú. Núi chạy sát đầm Nha Phu, bờ đá lởm chởm, vách đá dựng đứng, dài khoảng 4 km. Mặt trong của núi càng hiểm trở, có một cái hang to lớn có thể chứa ba bốn trăm người. Gần đó có một hòn đá trãi to lớn, hình chữ nhật, dài khoảng 70 m, rộng khoảng 50 m nằm lài lài trên triền núi. Tục truyền, đêm Nguyên Tiêu (rằm tháng Giêng), một đoàn tiên nữ bay về dự hội mừng xuân tại suối Hoa Lan, tại Hang đá, khiêu vũ tại Đá Trãi. Dưới chân núi, dân làng reo hò mừng đón chư tiên, mở hội, rước đèn suốt đêm. Từ đó, người dân gọi núi ấy là núi TIÊN DU, nơi những nàng tiên du hành đến địa giới, làng dưới chân núi là làng TIÊN DU, dòng suối Hoa Lan gọi là suối TIÊN DU, hang đá gọi hang TIÊN DU và nơi Đá Trãi gọi là Đá TIÊN DU.

HÒN HÈO là ngọn núi cao nhất trong dãy Phước Hà, cao 819m. Núi Phước Hà có nhiều song mây, nhưng mây nhiều nhất và lớn nhất là song mây ở Hòn Hèo (trong câu Mây Hòn Hèo, heo Đất Đỏ, loại heo rừng). Tại Hòn có loại mây bông, tiếng Hán Việt gọi là hoa đằng, vừa to vừa thẳng, người ta thường dùng làm gậy, nên gọi hòn này là Hòn Hèo, hèocây gậy. Tên núi Phước Hà cũng có tên là núi Hoa Đăng là vì thế.

Ca dao Ninh Hòa còn có câu :

 

HÒN HÈO mây bạc, nước nguồn CỬA BÔ

CỬA BÔ nằm dưới khu vực Đá Bàn, gần bên dòng sông Lốt nay thuộc thôn Gia Mỹ, xã Ninh An. Địa danh này xuất hiện thời thuộc Pháp. Có một thương nhân người Pháp tên Lô (dân địa phương gọi là Tây Lô) lên phía bắc hai làng Cung Hòa và Gia Mỹ lập địa điểm khai thác gỗ và chăn nuôi bò, dê, dân địa phương gọi địa điểm này là Cửa Bô ( tức đờ-bô, tiếng Pháp là Depot, bãi đất rộng hay kho chứa hàng hóa, lương thực....).  Tây Lô mộ dân phu đông đến cả trăm người, chuyên đi khai thác lâm sản trên rừng núi Đá Bàn. Trên vùng núi Đá Bàn cũng có người dân tộc sinh sống. Tây Lô tụ họp dân phu lại thành một khu vực cư trú, hắn gọi là làng và tự đặt tên là làng Minh Sơn. Làng này không nằm trong tổ chức hành chánh của huyện, không có quan chức của triều đình cai trị mà do Tây Lô tự điều hành, phân nhiệm vụ và tổ chức công việc, tổ chức đời sống cho dân phu. Tại làng Minh Sơn này có một cái chợ, đó là chợ Minh Sơn, còn gọi là chợ Cửa Bô do Tây Lô thành lập và tự thu thuế “tiền chỗ“ những người mang hàng đến chợ bán. Đây là hình thức chợ phiên, một tháng họp 4 lần tính theo âm lịch. Chợ được người quanh vùng tụ về mua bán, đổi chác giữa người Kinh và người dân tộc. Từ năm 1954, Pháp thua trận Điện Biên Phủ kéo về nước, Tây Lô cũng rút. Từ đó, Cửa Bô và chơ Minh Sơn không còn nữa.

Người dân địa phương có thể nhìn về Hòn Hèo để đoán thời tiết :

HÒN HÈO đội mũ

May phủ Đá Bia

Cóc nhái kêu lia

Trời mưa như đổ

Hay:

Bao giờ HÒN ĐỎ mang tơi

HÒN HÈO đội mũ thì trời sắp mưa.

 

NGÔ VĂN BAN sưu tầm và Biên soạn

 

xem tiếp kỳ 2

Bài liên quan