QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Tác Giả

Ngô Văn Ban

Sinh năm 1942

Võ Cạnh - Nha Trang

Dạy Việt văn ở TH Ninh Hòa

1970-1974

Nhà giáo ưu tú, hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Khánh Hòa, hội viên Hội Văn nghệ Dân gian VN.

Tác Phẩm

*Sổ tay từ ngữ phong tục tập quán về việc sinh, việc cưới, việc tang, việc giỗ của người Việt:

Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ...

* Món ngon năm chuột

 * Chuyện chuột năm Tý

* Xung quanh chuyện kỳ nam, trầm hương ở Khánh Hòa

___________________

* Lên núi săn trầm

 * Người trồng dó đợi trầm

* Chuyện dài kỳ nam ở Hòn Hèo

* Xung quanh chuyện kỳ nam, trầm hương ở Khánh Hòa

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

XUNG QUANH CHUYỆN KỲ NAM, TRẦM HƯƠNG

Ở KHÁNH HÒA, XỨ TRẦM HƯƠNG

NGÔ VĂN BAN

Trong bài “Lên núi “săn” trầm …”  Thanh Nam viết :” Những ngày vừa qua, từ câu chuyện ly kỳ về một người dân ở xã Ninh Giang (Ninh Hòa, Khánh Hòa) bỗng chốc trở thành “tỷ phú” nhờ nhặt được hơn 2kg kỳ nam tại khu rừng Hòn Hèo thuộc xã Ninh Phú – Ninh Hòa), hàng trăm người dân ở 2 huyện Ninh Hòa, Vạn Ninh đã đổ xô lên khu rừng này để đào bới, tìm mót kỳ nam với hy vọng đổi đời….”

Nhân việc đó, chúng ta thử tìm hiểu xem kỳ nam là gì ? Trầm hương là gì ? Trầm kỳ có giá trị gì mà mua bán bạc triệu, bạc tỷ và tại sao KHÁNH HÒA được gọi là XỨ TRẦM HƯƠNG ?

Khánh Hòa là xứ trầm hương

Non cao biển rộng người thương đi về

Đó là câu ca của Cụ Quách Tấn trong tác phẩm Xứ Trầm Hương. Tác giả cho rằng trầm hương là một thứ lâm sản rất quý của tỉnh Khánh Hòa, không những có nhiều mà còn tốt nhất so với trầm hương ở các tỉnh khác. Cho nên cụ bảo : hễ nói đến Trầm Hương là nói đến Khánh Hòa, mà nói đến Khánh Hòa là nói đến Trầm Hương.

Có một điều đặc biệt là 9 cái đỉnh đồng đặt ở Thái Miếu Huế, trong đó có 2 cái đỉnh tên là Cao Đỉnh  và Nhân Đỉnh  có khắc hình cây Trầm Hương trên Cao Đỉnh và cây Kỳ Nam  trên Nhân Đỉnh. với lời ghi chú : Trầm Hương : “Khi thành cổ thụ chìm xuống nước” (Theo Đông y, trầm chìm xuống tận đáy nước là trầm tốt nhất), Kỳ Nam : “Cây ở vùng rừng Khánh Hòa, ruột lõi rất thơm”. (Về tỉnh Khánh Hòa ta, ngoài cây trầm hương và kỳ nam được khắc trên cửu đỉnh, còn có cây Tô Hạp (dầu Tô Hạp) và Núi Đại Lãnh).

Không chỉ đời nay nói đến Khánh Hòa có nhiều trầm hương và loại trầm hương tốt nhất, mà thời xưa, trong tác phẩm Phủ Biên Tạp Lục (được in năm 1776), tác giả là Lê Quý Đôn cũng đã nhắc đến trầm hương của tỉnh Khánh Hòa: “ Kỳ nam hương xuất từ đầu núi các xã thuộc hai phủ Bình Khang và Diên Khánh xứ Quảng Nam là thứ tốt nhất; xuất tự Phú Yên và Quy Nhơn là thứ hai ”. (Phủ Bình Khang thời đó gồm hai huyện Quảng Phước và Tân Định, ngày nay là 2 huyện Vạn Ninh và Ninh Hòa).

Trong Đại Nam Nhất Thống Chí – Tỉnh Khánh Hòa của Sử Quán Triều Nguyễn, trong mục thổ sản cũng đã ghi : “Vùng núi các huyện đều có kỳ nam, trầm hương. Dân xã An Thành, huyện Tân Định hàng năm đi kiếm để nạp, năm nào không có kỳ nam phải nạp thay bằng trầm hương..” (xã An Thành xưa, nay là thôn, thuộc xã Ninh Bình, huyện Ninh Hòa).

Nói chung, trầm kỳ có nhiều và tập trung tại các vùng núi hướng về phía có gió biển, nên ta thường gặp ở vùng phía Đông Trường Sơn hơn là Tây Trường Sơn. Theo nghiên cứu, trầm kỳ có nhiều ở Campuchia và Việt Nam. Riêng ở Việt Nam, ít thấy có trầm kỳ ở phía trên vĩ tuyến 17. * Ở Quảng Trị thường thấy ở vùng Cam Lộ. * ? Thừa Thiên-Huế vùng A Sao, A lưới, vùng đèo Hải Vân. * Ở Bình Định có từ vùng núi Quy Nhơn đi vào. * Ở Bình Thuận và Lâm Đồng có vùng núi giáp ranh của hai tỉnh. * Ở hải đảo có ở Phú Quốc. * Riêng ở Khánh Hòa trầm kỳ được tìm thấy ở các huyện Vạn Ninh, Ninh Hòa, Khánh Vĩnh, nhưng nổi tiếng nhất là vùng Tu Bông Vạn Giã thuộc huyện Vạn Ninh, nên có câu : Cây quế thiên thai mọc ngoài khe đá, Trầm nơi Vạn Giã hương tỏa sơn lâm ..

Vậy TRẦM HƯƠNG là gì ? KỲ NAM là gì ?   

Kỳ Nam (Đông Y thường gọi là GIÀ NAM, KỲ NAM HƯƠNG) và trầm hương là sản phẩm đặc biệt nằm trong lõi của CÂY GIÓ. Cây gió là một loài đại mộc, có thể cao 40-50m, vỏ màu xám, có nhiều sợi có thể làm giấy được. Gỗ mềm, màu trắng, nhánh ít đâm thẳng lên, không đâm ngang như nhánh của các loại cây rừng, trái là nang dài 4cm. Cây gió có nhiều tên gọi khác nhau. Trong các nghiên cứu phân loại trong nước có đến 6 loại gió. Ở Khánh Hòa ta có hai loại :

1/ Gió Bầu : Thân cây mềm, nhiều chất nhựa, sinh nhiều kỳ nam và trầm và cũng là loại cây có thể tạo trầm nhân tạo thành công hơn cả. Do đó, hiện nay, có nhiều nơi trồng cây gió bầu này để tạo trầm kỳ. Năm 2005, Bộ NN-PTNT đã cho phép 6 vùng sinh thái trong nước được trồng rừng sản xuất bằng cây gió bầu.

2/ Gió Me : Thân cây cứng hơn Gió Bầu, ít chất nhựa. Cây gió này cũng có thể tạo trầm nhân tạo nhưng ít thành công hơn.

Nhưng không phải bất kỳ cây gió nào cũng có trầm hương và kỳ nam. Chỉ có một số cây gió có bệnh mới chứa trầm ở phần lõi của thân cây. Ở đây, các tế bào gỗ thoái hóa, biến dạng, mất mộc tố, chứa một chất nhựa thơm, biến thành những khối hình thể không đều, lồi lõm, có rãnh dọc, màu sậm, đó là KỲ NAM. Chung quanh kỳ nam, gỗ cũng biến chất ít nhiều, khi đốt cháy tỏa ra mùi thơm, thường dùng để làm nhang, nên gọi là TRẦM HƯƠNG.

Những cây gió bị bệnh là do cây bị chấn thương bởi mảnh bom đạn ghim vào, hay bị rìu rựa chặt sâu vào, hay do sâu bệnh đục khoét, hay do bão gây nên gãy cành, gãy ngọn … Tại những nơi chấn thương ấy, sau một thời gian dài từ 10 đến 15 năm, dưới tác động một ngày một ít của môi trường, gây ra những phản ứng hóa học bên trong cây gió, từ đó tạo thành kỳ nam, trầm hương. Có khi do một loại nấm gây nhiễm mục nát thân cây rồi chuyển hóa tạo nên. Có người cho rằng thân cây gió bị bọng rồi những con ong, con kiến làm tổ ở đó, đưa mật về ăn, hương mật ấy ngấm vào thịt của cây gió lâu ngày mà kết thành kỳ nam.

Trong Phủ Biên Tạp Lục, Lê Quý Đôn cũng có nói về cây gió : “Gió có 3 loại : gió lưỡi trâu thì thành khổ trầm, gió niệt thì thành trầm hương, gió bầu thì thành kỳ nam hương. Người ta thấy cây già lá vàng mà nhỏ, thân cây nhiều u bướu, thì biết ngay là có hương, chặt mổ để lấy “. Theo kinh nghiệm của những người đi tìm trầm, khi nào gặp những cây gió cao 30-40m trở lên, lá đã vàng và nhỏ dần dần, thân cây có nhiều u bướu hoặc gốc có gò mối đóng thì cây dó đó có kỳ nam. Họ hạ cây, đào tận rễ để tìm, vì kỳ nam có thể nằm trên ngọn, ở thân, hoặc ở rễ.

Lê Quý Đôn cũng giúp ta phân biệt kỳ nam với trầm hương : “Muốn phân biệt trầm hương với kỳ nam thì lấy hình chất và khí vị mà phân biệt. Trầm hương thì cứng, nặng, ít thơm, sắc nhạt, vị đắng. Kỳ nam thì mềm nhẹ, có hơi dầu, thơm mát, vị gồm đủ cay, chua, ngọt, đắng. Đốt trầm hương thì khói kết xoáy rồi sau mới tan. Đốt kỳ nam thì hơi khói lên thẳng mà dài “ (do có tinh dầu, khi cháy cho ngọn màu xanh, khói bay rất lâu trong không khí).

Muốn phân biệt kỳ nam tốt xấu, những người có kinh nghiệm cho biết, loại nào có sớ nhuyễn mịn, có nhiều tinh dầu là tốt, trái lại loại nào rắn chắc và ít dầu là xấu. Có người thử bằng cách gói kỳ nam trong lá chuối thật kín rồi đem phơi nắng. Đến tối, mở ra xem thấy nhiều chất dầu chảy ra là thuộc loại tốt.

Dầu ở kỳ nam kết tinh giống như sáp ong. Tùy theo màu sắc, người ta chia kỳ nam thành 4 loại thứ tự : Nhất bạch, nhì thanh, tam hoàng, tứ hắc. Còn trầm hương thì được chia làm 2 loại : Trầm Sinh (từ trong thân cây sinh ra, miếng trầm đặc, không có lỗ), Trầm Kiến (gọi là Kiến, miếng trầm có lỗ do kiến đục, gồm các loại : Kiến xanh, Kiến loạn, Kiến bẹ, Kiến hột mít, Kiến hột bắp, Kiến lồi…)

Xét về giá trị trầm kỳ, kỳ nam, trầm hương bán được bạc triệu, bạc tỉ. Vậy kỳ nam, trầm hương có công dụng gì mà giá đắc đến thế ?

Kỳ nam trầm hương của ta rất có giá trị không những thời nay mà còn ở thời xưa. Ngày xưa, nhà nước phong kiến xâm lược phương Bắc đã từng vơ vét hay bắt dân ta cống nạp hàng năm những sản vật quý ở nước ta, trong đó có kỳ nam, trầm hương. Ông Cristophoro Borri, một giáo sĩ Dòng Tên, năm 1621 đã đến Đàng Trong, ông ghi chép lại những điều tai nghe mắt thấy trong tác phẩm Xứ Đàng Trong năm 1621 và ông có đề cập đến “ một loại gỗ vốn là món hàng quý nhất có thể xuất từ xứ Đàng Trong ra các nước ngoài. Đó là thứ gỗ nổi tiếng gọi aquila và calamba (tức trầm hương và kỳ nam); cùng loại gỗ nhưng khác về tác dụng và sự quý chuộng người ta dành cho chúng” . Tại Hội An, Ông còn ghi chép lại việc mua bán, trao đổi hàng hóa giữa người Nhật, người Hoa và người Việt, trong đó có kỳ nam, trầm hương. Xưa nay, nhiều nơi trên thế giới, như Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ và châu Âu đã biết đến và đánh giá rất cao về các loại trầm hương có nguồn gốc từ Việt Nam. Vào tháng 10-2003 tại một cuộc hội thảo quốc tế lần đầu về trầm hương được tổ chức tại TP Hồ chí Minh và An Giang, các nhà khoa học đã khẳng định : Trầm hương của Việt Nam là tốt nhất, được mua với giá cao nhất, sản lượng trầm trên thế giới bị phụ thuộc vào Việt Nam và Việt Nam được xem không chỉ là vương quốc của trầm hương trong quá khứ mà còn là nguồn trông cậy của cả thế giới hiện nay và cả trong tương lai, bởi trầm là một loại dược liệu và hương liệu thượng thặng không có gì thay thế “. (tạp chí Kiến Thức Ngày Nay, số 557, 01.02.2006).

Trầm kỳ, xét về mặt y học, rất có có giá trị trong việc chữa trị một số bệnh.

Trong Phủ Biên Tạp Lục, nhà bác học Lê Quý Đôn cũng đã có những ghi chép về việc dùng kỳ nam trầm hương để chữa một số bệnh. Ông viết :” Kỳ nam có thể chữa bệnh trúng phong, đàm suyễn, cấm khẩu, mọi chứng, mài vào nước mà rỏ và đốt khói cho hơi hương vào mũi thì tỉnh lại ngay. Đau bụng đầy tức thì ngậm là khỏi ngay. Lại có thể trừ được tà khí uế khí, nên trong chỗ hành dịch hành quân không thể không dùng”.

Theo Đỗ Tất Lợi, trong quyển Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam đã cho rằng : “ Trầm hương là một vị thuốc hiếm và đắt trong Đông Y, người ta coi nó có vị cay, tính hơi ôn vào 3 kênh tì, vị và thận; có tác dụng chữa các bệnh đau ngực bụng, nôn mữa, bổ dạ dày, hen suyễn, bí tiểu tiện. Còn có tác dụng giảm đau, trấn tĩnh. Ngày dùng 3-4 g dưới dạng bột hay ngâm rượu. Ít khi sắc, thường chỉ mài với nước mà uống “.

Ngoài ra, theo các nhà dược học, trầm kỳ còn :

- * trừ được sơn lam chướng khí (xông trong nhà để trừ khí độc),* đốt trầm trong nghi lễ thờ phương, *làm nhang thơm (mùi thơm tinh dầu trầm không thể lẫn lộn với một loại hương thơm nào khác. Nếu ta lấy tinh dầu thơm của trầm kỳ phối với tinh dầu xạ hương (lấy từ túi thơm của con cầy hương) sẽ tạo ra một mùi hương rất đặc biệt, rất mạnh và rất quyến rũ giới tính, * bọc kỳ nam vào túi vải đeo vào cổ xem như bùa hộ mệnh, ngừa trúng gió. * Dùng làm gối (BORRI: Nếu tìm được một tấm lớn có thể làm gối để gối đầu thì người Nhật mua tới ba trăm hay bốn trăm đuca (đồng tiền vàng đúc ở Ý vào thế kỷ 13) một líu (livre, nửa cân). * Còn làm tượng, đồ trang sức (thơm lâu, công dụng trị gió, tránh cảm mạo), *Trong công nghệ mỹ phẩm : làm nước hoa, xà phòng thơm …

-          Dùng làm thuốc giải nhiệt và trừ sốt rét.

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học Tây phương cũng như ở Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, trầm kỳ được coi như một dược liệu thượng đẳng chữa được một số bệnh

Việc đi tìm trầm kỳ (đi địu) không phải là việc dễ dàng.

Người đi tìm trầm kỳ thường gọi là người “ăn trầm” hay kiêng cử thì gọi “đi ăn của Ông Bà” hay “đi địu”. Có người nói “đi điệu” là đi “đơn điệu”, đi một mình, sợ nhiều người, thấy trầm kỳ, nổi máu tham, sinh giết hại lẫn nhau. Nhưng theo Lê Quang Nghiêm, nhà nghiên cứu dân gian tỉnh ta (nay đã mất), trong tác p[hẩm Những chuyện kể dân gian tại Khánh Hòa, cho rằng đi tìm trầm kỳ không ai dám đi một mình vì rừng Khánh Hòa nổi tiếng nhiều cọp, nếu bệnh hoạn không ai giúp đỡ thì chết, một mình thì không thể hạ những cây gió cổ thụ cao 30-40 mét và nếu có trầm kỳ thì một mình không mang nổi về. Theo Ông, “đi địu” mới đúng, vì “địu” là mang con, mang gùi ở sau lưng. Người đi tìm trầm đa số mang gùi sau lưng để đựng vật dụng và thức ăn. Thức ăn là gạo, muối, đường, dầu, ớt, mực muối, cá kho, rượu .. Vật dụng ngoài rựa, rìu còn mang theo võng, tấm bạt và có cả tấm lưới để bắt cá cải thiện bữa ăn.

Những người đi tìm trầm kỳ, ngày xưa nhiều nhất là người dân huyện Vạn Ninh, Ninh Hòa. Làm nghề này phải trãi qua nhiều nguy hiểm, có thể sinh bệnh tật hay chết người, tuy kiếm được nhiều tiền. Chính vì thế nên có người cho rằng họ phải “ngậm ngải tìm trầm” mới mong được thắng lợi và an toàn.

Nói về ngải thì không ai biết loại ngải gì, chắc họ giữ bí mật nghề nghiệp. Theo Ông Lê Quang Nghiêm, người hiểu biết đôi chút về bùa ngải nói rằng họ chuộc hai thứ ngải của thầy bùa ngải hoặc thầy pháp cao tay ấn một thứ gọi là ngải “Mách” để nhờ ngải mà biết nơi nào, cây gió bầu nào có trầm kỳ và một thứ ngải Kỵ thú dữ, để cọp beo không dám đến gần. Họ cho rằng hai thứ ngải này rất độc, chỉ được sử dụng một thời hạn nhất định và phải trả lại cho thầy, nếu không sẽ bị hóa thành Hà Niên (người hoang dã sống trong rừng). Trong một bài báo trên báo Tuổi Trẻ ngày 4/9/2006, có tên Kỳ nam và Trầm hương, tác giả Tôn Thất Sam cho rằng việc “ngậm ngải” là ngậm củ Ngải, đó chỉ là một loại riềng dại, có vị thơm dịu, khi ngậm, ruột đỡ cồn cào trong lúc thức ăn mang theo đã hết sạch. Còn việc ngậm ngải không phải để thú dữ lánh xa, vì người đi tìm trầm kỳ thường mang theo roi mây, thỉnh thoảng quất vào không khí thành những tiếng kêu “trót, trót”, chính âm thanh đó làm cho cọp beo lánh xa, giống như tiếng roi da của những người dạy thú trong các gánh xiếc thú, làm cho voi, cọp phải gườm.

Những người đi tìm trầm kỳ có những hậu quả không được tốt, lành ít dữ nhiều, không những không tìm thấy trầm kỳ mà còn lạc đường về, ở lâu trong núi và có người nói rằng họ hóa thành Hà Niên, mình mọc đầy lông, tiếng người quên hết, nhảy nhót như khỉ đột, trốn về làng bắt gà xé ra ăn sống. Có Hà Niên được người nhà bắt được, dẫn về làng, dần dần hồi tĩnh trở lại, đoàn tụ với gia đình.

Thời kỳ xa xăm, không báo chí ghi chép, chỉ là những truyền khẩu, chắc mục đích là “khuyến cáo” người đi tìm trầm kỳ sẽ gặp nhiều nguy hiểm.

Thật vậy, những cây gió mọc trong rừng rậm trùng trùng điệp điệp xen lẫn với hàng trăm cây khác rất khó kiếm tìm. Và có tìm được cây gió, chưa chắc gì cây gió đó có trầm kỳ. Do đó những người tìm trầm kỳ phải luồn rừng, từ tháng này sang tháng nọ để tìm kiếm. Có lúc lương thực hết, sinh đói khát, có lúc đi lạc trong rừng không tìm được đường về. Đó là chưa kể gặp phải thú dữ như cọp beo gấu, bị trợt chân té xuống vực sâu, té xuống thác, đạp nhầm phải bẫy bắt thú của người dân tộc, đạp phải mìn … có thể bỏ mạng, Vì thế, nếu về được nhà, thân hình của họ trở nên hốc hác, râu tóc mọc đầy, áo quần rách tơi tả chẳng khác gì dã nhân, nên nhiều người tưởng tượng ra họ ngậm ngải lâu ngày nên biến thành người rừng, người Hà Niên.

Không phải ai “đi địu” cũng kiếm được trầm kỳ. Dân đi địu cho rằng trầm kỳ là của Bà Thiên Y A Na, ai ăn ở lương thiện thì Bà cho gặp.

Vùng đất Khánh Hòa trước đây là của người Chăm. Nếu người Việt Khánh Hòa từ xưa biết khai thác và sử dụng trầm kỳ, thì trước đó người Chăm đã biết khai thác và sử dụng chưa ? Trong sách Lịch sử Việt Nam (tập 1) của Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh, nơi mục Sự phát triển kinh tế và xã hội ở Vương quốc cổ Cham Pa (từ đầu đến thế kỷ thứ 10), nhờ có các sách sử Trung Quốc, như Cựu Đường thư, Nam sử, Lương thư, Thủy kinh chú… mà ta biết được những sản vật quý hiếm trên vùng đất Cham Pa, trong đó có trầm hương : “ Từ lâu, lãnh thổ thuộc vương quốc Cham Pa xưa – miền Trung và Nam Trung bộ Việt Nam ngày nay – đã nổi tiếng là nhiều sản vật. Đây là nơi “bốn mùa ấm áp không sương tuyết”, “cây cỏ mùa đông tươi tốt, bốn mùa đều ăn rau sống” (Cựu Đường thư, q.197,1b), lại có “đồi mồi, vỏ bối, ngà voi, cổ bối, gỗ trầm” (Nam sử, q.78,1b). Trong các loại đó, nổi tiếng nhất là gỗ trầm. “Gỗ trầm, thổ nhân đẵn ra để cất hàng năm, mục nát nhưng ruột vẫn cón, bỏ vào nước thì chìm, nên gọi là trầm hương, thứ nữa là loại không chìm, không nổi, nên gọi là sạn hương” (Lương thư). Gỗ trầm dùng làm thuốc chữa bệnh đường ruột, ổn định tiêu hóa và làm hương đốt lấy mùi thơm, rất được ưa chuộng trong dân gian và là một thứ nhu cầu thường xuyên của quan lại và triều đình. Gỗ trầm trở thành thứ sản vật quý, trong nước cũng như ở nước ngoài, đã đi vào nội dung của các câu chuyện truyền thuyết. Người ta phải mua gỗ trầm bằng lượng vàng nặng tương đương…” (Thủy kinh chú) “.  . Trong Phủ Biên Tạp Lục, Lê Quý Đôn cũng cho biết : “ Trầm hương sản xuất không phải ở một nơi, ở Chân Lạp là tốt nhất, ở Chiêm Thành thứ nhì .. “

Chắc còn nhiều tài liệu nữa để chứng tỏ người Chăm trước kia đã biết khai thác và sử dụng trầm kỳ. Hiện nay, người chăm vẫn dùng trầm hương trong các nghi thức cúng Thần tại các Tháp Chàm. Trong các bài tụng cúng Thần, ta nghe được những câu :

            Đốt trầm, dâng nước một lần

            Tôi quỳ, tôi cúng mời thần Pô Tang

            ……

            Đốt trầm dâng bốn phương trời

            Thỉnh ba Thần đến, thỉnh mời cả ba

            Trứng gà, rượu nước, hương trầm

            Khay trầu đây nữa kính thầnPô Tang

            …….

Qua các lời của các bài cúng nữ thần, Bà Thiên Y A Na không những tạo lập ra xứ sở và vạn vật mà còn là Thần Mẹ của cây Trầm Hương. Sự gắn kết giữa nữ thần với cây trầm hương còn được thể hiện trong các truyền thuyết về Bà nhập thân vào cây trầm rồi từ cây trầm hiện thân ra, như lịch sử Bà qua bia của Phan Thanh Giản dựng ở Tháp Bà Nha Trang.

Trong thực tế, những người đi địu vẫn tin rằng trầm kỳ là của Bà Thiên Y A Na. Họ tin rằng vì trầm kỳ là của Bà nên Bà cho ai là người đó được.

Trong Xứ Trầm Hương, Quách Tấn cho ta biết : “Bà có bốn cây trầm hương kỳ cựu trấn bốn phương : - 1 ở Đồng Bò (Thành phố Nha Trang) trấn phía Nam.  – 1 ở Hòn Bà Ninh Hòa trấn phía Bắc.  – 1 ở Hòn Dữ Diên Khánh trấn phía Tây.  – 1 trấn ở Suối Ngỗ Diên Khánh trấn phía Đông. Những cây trầm này không còn lá không còn giác, mưa nắng không thể làm hư mục được. Và có chim rừng canh, cọp rắn giữ. Hễ ai trông thấy mà có ý muốn chiếm hữu thì liền bị “lính canh giữ của Bà” đánh đuổi “. Vì thế,  có một số nơi trên núi ở các huyện Vạn Ninh, Ninh Hòa, Khánh Vĩnh có đền thờ Bà Thiên Y, mỗi lần dân đi địu đi tìm trầm kỳ đều đến dâng lễ vật cúng lễ, cầu Bà cho ban phước gặp được trầm. Do đó, có thể coi Bà Thiên Y là thần bảo vệ cây trầm kỳ và bảo vệ  người tìm trầm kỳ.

Người xưa đi địu tìm trầm kỳ luôn thận trọng tránh những điều sơ suất có thể xúc phạm đến thần linh. Họ biết nơi sơn lam chướng khí ở núi rừng có nhiều uy lực huyền bí và họ cũng biết rằng trầm kỳ là của Bà, không những tránh chặt phá bừa bãi cây gió mà còn phải bảo vệ cây gió theo kế hoạch lâu dài. Ai tìm được cây gió nào thì đánh dấu sở hữu cây nấy, có thể không đốn hạ mà cứ từ từ khai thác và truyền lại cho con cháu hưởng, không sợ ai xâm phạm, dù đó vẫn là của rừng.

Người đi tìm cây gió, thường nói trại lại là “đi dạo”, phải lựa chọn, quan sát kỹ, biết cây nào có trầm kỳ mới cho hạ xuống.

Dân đi địu ngoài việc chọn người Bầu Trưởng, rồi chọn những người hợp tuổi, có người trước khi xuất hành phải ăn chay ba ngày, chọn ngày giờ tốt để xuất hành và phải tuân theo những nghi lễ cúng đặc biệt như cúng Bà, cúng Thần Rừng, cúng tạ ơn (khi tìm thấy cây gió bầu có biểu hiện kết trầm kỳ, thì phải nhịn đói để giữ mình cho tinh khiết, tìm đến suối tắm rửa sạch sẽ, đặt lễ cúng Bà, Thần Rừng để tạ ơn, trước khi đốn cây gió bầu tìm trầm kỳ), còn phải tuân theo những cấm kỵ phức tạp, nhất là lời ăn tiếng nói như kiêng cữ một số từ, phải nói trại laiï, ví dụ như nói về các loài thú dữ : cọp (Ông Thầy), Rắn (Con Dài), Trăn (Ngựa Bà), các con vật như gà (Kê), Heo (Dủi), ong (Uông), Cá (Rau), kiến (Rát), còn gạo (Me), muối (Diêm), đi lạc (lục xính), bị té (nhểu), bị chảy máu (chảy mắm) … Trong rừng họ tránh ăn thịt kỳ đà vì sợ xui, ăn trăn rắn vì cho đó là ngựa của Bà.

Những năm chiến tranh, việc đi tìm trầm kỳ bị ngừng trệ, sau này, có người tìm được, thu được nhiều tiền khiến cho nhiều người đổ xô nhau đi tìm, gây ra cơn sốt trầm kỳ, bỏ bê ruộng rẫy, công việc ở nhà. Họ gặp cây gió là đốn, bất kể lớn nhỏ. Có những cây gió “để dành”, dù có đánh dấu, giờ vẫn không còn. Việc khai thác bừa bãi đó dẫn đến cây gió càng ít đi, các cây con có thể 40, 50 năm nữa mới có trầm kỳ. Có khi trong nhóm tranh dành trầm kỳ chém giết nhau.

Cây gió bầu đang đứng trên bờ tuyệt chủng. Do đó, Nhà Nước ta đã có kế hoạch cho trồng rừng loại cây gió bầu này. Tỉnh ta cũng có người nghiên cứu các chất tạo trầm nhân tạo  và các phương pháp tạo trầm trên cây gió bầu. Vì nếu để cây mọc tự nhiên, rồi kết thành trầm kỳ cũng phải mất một thời gian khá lâu. Và cũng không phải cây gió bầu nào cũng có trầm kỳ. Do đó phải dùng những phương pháp nhân tạo để tạo trầm cho cây. *(Các chất tạo trầm bằng tác nhân vi sinh ( với các loại vi sinh vật như vi khuẩn, nấm men, nấm mốc, tảo, động vật nguyên sinh, vi rút … Các chất hóa học tạo trầm như các bazơ, các axit vô cơ, hữu cơ và một số đơn chất như lưu huỳnh, sắt, kẽm, đồng. Các dung môi tạo trầm và tạo trầm bằng cơ học).

Ngoài ra, chính quyền cũng nên có kế hoạch ngăn cản những người đi hạ cây gió một cách bừa bãi, hay nghe tin đồn nơi đó có trầm kỳ rồi đổ xô đi chặt phá, đào bới gây tổn thất môi trường, vì đâu phải cây gió nào cũng có trầm kỳ.

Trầm Hương, Kỳ Nam là những sản vật quý giá của địa phương chúng ta, một sản vật tiêu biểu của một vùng đất được mang tên XỨ TRẦM HƯƠNG. Nếu chúng ta không biết bảo vệ, không chủ động đầu tư cho việc trồng cây gió bầu, không có phương pháp tạo trầm nhân tạo, như thế, để rồi một mai, trầm hương vắng bóng trên vùng đất này, thì niềm tự hào Xứ Trầm Hương sẽ không còn nữa.

                                                                                  N.V.B

-------------

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH :

1/ LÊ QUÝ ĐÔN, Phủ Biên tạp lục, NXB Văn Hóa Thông tin, Hà Nội, 2007

2/ Đại Nam nhất thống chí – Tỉnh Khánh Hòa, Tu Trai Nguyễn Tạo phiên dịch, Nha Văn Hóa-Bộ Văn hóa Giáo dục Sài Gòn xb, 1964.

3/ QUÁCH TẤN, Xứ Trầm Hương, Hội Văn học Nghệ thuật Khánh Hòa xb, 2002

4/ CRISTOPHORO BORRI, Xứ Đàng Trong năm 1621, Hồng Nhuệ-Nguuyễn Khắc Xuyên-Nguyễn Nghị dịch, chú thích, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1998.

5/ PHAN HUY LÊ – TRẦN QUỐC VƯỢNG – HÀ VĂN TẤN – LƯƠNG NINH, Lịch sử Việt Nam, (tập 1), NXB Đại học và Giáo dục Chuyên nghiệp, Hà Nội, 1991

6/ ĐỖ TẤT LỢI, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 1977.

7/ NGÔ VĂN DOANH,  - Lễ hội chuyển mùa của người Chăm, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 2006.

                                   - Văn hóa cổ Chămpa, NXB Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 2002.

8/ LÊ QUANG NGHIÊM, Những chuyện kể dân gian tại Khánh Hòa, Hội Văn học Nghệ thuật Khánh Hòa xb, 2004

9/ NGUYỄN VIẾT TRUNG, Khánh Hòa – xứ Trầm Hương, trong Tìm hiểu giá trị Lịch sử & Văn hóa truyền thống Khánh Hòa 350 năm, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003.

10/ BÙI CÔNG KHÁNH (Ban Dân tộc Miền Núi tỉnh Khánh Hòa), Bước đầu tìm hiểu các chất tạo trầm nhân tạo trên cây dó bầu (Aquilaria crassna) tại Việt Nam, bản in vi tính.

Tạp chí Kiến Thức Ngày Nay, Báo Tuổi Trẻ

Về trước

   

Mọi thông tin về Website xin gởi về webmaster@ninhhoatoday.net