QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Tác Giả

Võ Triều Dương

Tác Phẩm

* Chuyện Thầy Đồ Ninh Hòa

* Non nước xứ Đồng Hương 1, 2, 3

 * Hương sắc xuân xưa Ninh Hòa

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NON NƯỚC XỨ ĐỒNG HƯƠNG

(KỲ 3)

võ triỀu dương

(Võ Triều Dương, hội viên Hội VHNT Khánh Hòa. Sống ở thôn Tân Tứ, xã Ninh Thượng, huyện Ninh Hòa; làm ruộng và viết biên khảo về văn hóa - lịch sử địa phương.)

 

Ảnh: Lúa về

5. Kháng Chiến và Thơ Vè :

Xứ Đồng Hương địa thế lồng chảo xung quanh được núi đồi bao bọc, ở giữa có một con suối lớn vực thẩm uốn lượn quanh co qua các cánh đồng, hai bên bờ tre nứa rậm rạp. Mặt đông chỉ có một con đường độc đạo đi lên, mà phải băng qua con suối vực thẩm đúng là một địa hình thiên la địa võng. Tinh thần yêu nước của dân Đồng Hương nồng nàng, bởi vậy xứ Đồng Hương khi xưa là mồ chôn giặc pháp. Năm 1951 đại đội Hà Vi Tùng phối hợp với quân dân địa phương, đã mở một cuộc phục kích ngay tại làng Đồng Thân (hậu thân của Đồng Hương ) tiêu diệt gọn 120 tên giặc Pháp và Việt gian, làm chấn động cả tỉnh Khánh Hoà, suốt nhiều năm quân giặc vẫn còn kinh hồn bạt vía. Trận chiến thắng này hiên ngang đi vào trang quân sử tỉnh Khánh Hoà.

Rồi từ đó rất nhiều ca vè, bài chòi được sáng tác bởi những tác giả vô danh, ca ngợi khích lệ tinh thần yêu nước của mọi người: cô gái Đồng Hương bày tỏ tấm lòng kiên trinh của mình và nhắn gởi lời cùng anh vệ quốc quân, với một đoạn trích sau đây:

Ai ra vọng gác bìa rừng

Nhắn anh vệ quốc coi chừng giặc Tây

Nó quyết cướp lúa mùa này

Bắt em đi gặt nuôi bầy khố xanh

Nhưng lòng em chỉ biết có Việt Minh

Dù ở với Pháp cũng hướng tình lên non

Anh vệ quốc dễ thương nè!

Sáng mai trên ruộng Đồng Hương

Em biết giặc Pháp theo mươn về đồn

Các anh ơi! phục kích thật chu toàn

Giết hết giặc Pháp với Việt Gian bạo cường…

Lòng yêu nước còn được thể hiện qua từng gia đình với những bà mẹ già, cặp vợ chồng còn son trẻ. Lời ca vè khích lệ tất cả mọi người phải biết hi sinh cả gia đình và mạng sống để bảo vệ tổ quốc. Xin trích vài đoạn:

- Con trai và con dâu hô:

Mẹ ơi! Con thơ con giao lại mẹ già

Nước non đã vững thì nhà mới yên.

Trai anh hùng gái thuyền quyên

Quang Trung, trưng Triệu để gương đời này.

Lời thề chứng có cao dày

Xông pha diệt Pháp lòng này không ngui.

Nhân dân bị giặc chôn vùi

Con quyết đem xương máu đắp bồi non sông…

- Mẹ già hô:

Hai con mà có quyết tâm

Mài gươm cho bén để đâm quân thù.

Mẹ đây dù diếc dù mù

Dù đói dù khát mẹ cũng trù liệu cơ………

Gái trai lòng sắc dạ son

Đánh tan giặc Pháp không còn xăm lăng

Diệt phường phong kiến Việt gian

Chung tay gở ách lầm than cho giống nòi.

Quốc thù nhục lắm con ơi!

Chỉ còn lấy máu rửa thời non sông

Hai con phải quyết một lòng

Lang-sa chưa diệt thì không nên về…

(Những bài dân ca nổi tiếng này đều do bà Trương Thị Kính 80 tuổi, cựu tù nhân Việt Minh hiện sống tại làng Đồng Thân cung cấp).

6. Chuyện Cổ Tích Xứ Đồng Hương:

Xứ Đồng Hương có hai khối đá rất lớn là hòn đá Diêm và hòn đá Vàng. Hòn đá Diêm toạ lạc tại khu vực thôn Sơn Điền Nàng Hai xưa kia,nay thuộc thôn Tân Phong, xã Ninh Xuân. Khối đá không cao nhưng rất lớn chiếm diện tích khoảng 1000m2 bên trên có một lỗ thủng giống vết chân người, bề mặt khổ đá tương đối bằng phẳng. Những đêm trăng thanh gió mát mà gầy một cuộc nhậu nơi đây, nếu bạn rượu tri giao cất lên những khúc hát “ trăng rụng xuống cầu”, hay xuống giọng một câu xề vọng cổ thật mùi, thì mới thấy được cuộc đời này không thiếu hương vị thanh cao đáng quí.

Cách khoảng hai cây số về hướng Đông gần làng văn hoá Nghi Xuân tục gọi là xóm Đá, có một hòn đá Vàng, khối đá này nhỏ hơn nhưng cao lớn đồ sộ vách đá dựng đứng, hảy leo lên trên đỉnh thì sẽ thấy nơi đây như một tư lệnh đài, quan sát được cảkhu vực làng xóm, đồng ruộng chung quanh. Trước năm 1975 khối đá được cây cối phủ kín um tùm, trong những năm từ năm1965 – 1975 khu vực nơi đây từng diển ra những cuộc chiến thư hùng chớp nhoáng. Ngày ấy một thế trận lập ra gọi là trận “lùa vào toi”, nhờ khéo dụ địch và biết thuật nghi binh, bên Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, trấn được “tư lệnh đài” tức đỉnh khối đá Vàng, nên chiến thắng một trận oanh liệt và chớp nhoáng, một đại đội đối phương bị tiêu diệt xác người nằm la liệt trên ruộng đồng.

ChuyỆn ông KhỔng LỒ

Từ hai khối đá Diêm và đá Vàng tại xứ Đồng Hương kinh qua hằng chục đời người, còn truyền kể lại một mẫu chuyện cổ tích ông Khổng Lồ sau đây:

Thuở tạo thiên lập địa toàn phủ Thái Khang đều là biển, để có đất bằng phẳng cho lê thứ sinh sống. Tròi bèn sai ông Khổng Lồ xuống thế gian dùng đôi quan gánh núi lấp biển. Cả vùng biển được ông gánh núi lấp thành đất liền vừa xong, ông tiếp tục gánh núi phía tây để lấp cho song vùng biển Hòn Khói. Không ngờ ông Khổng Lồ gánh đá đi vừa đến địa phận xứ Đồng Hương, thì đôi gióng bị đức hai khối đá rớt phịch lún sâu dưới mặt đất. Tức giận quá ông Khổng Lồ dậm mạnh cái chân lên khối đá rớt bên sau nên lún hình dấu chân.

Ngày nay nếu ai leo lên chơi trên hòn đá Diêm tại làng Tân Phong xã Ninh Xuân sẽ thấy dấu vết chân trên ấy. Những cụ bà ngày xưa thường hối tiết rằng, phải chi đôi gióng của ông Khổng Lồ không bị đức thì biển Hòn Khói sẽ được lấp cạn và đất Ninh Hoà được rộng thêm.

ChuyỆn bẮt chí cho mẸ chỒng

Hàng 200 năm về trước từ mặt tây bắc kéo xuống đông nam xứ Đồng Hương nối tiếp bằng một bàu nước dài hơn 2km, trên vùng cỏ nước này loài chim le le có rất nhiều, chúng sống thành bầy không thể lìa xa nhau. Ngày ấy có một nhà kia cửa ngõ hướng ra mặt bàu, người con trai cột trụ trong gia đình rủi thay mất sớm, bỏ lại một bà mẹ già lưng còng ốm yếu và cô vợ trẻ với đứa con thơ.

Chồng chết người goá phụ vẫn giữ một niềm tiết hạnh kiên trinh, quyết dạ chung thuỷ thờ chồng nuôi mẹ và đứa con. Những buổi chiều rảnh rỗi đứa con dâu ngồi đón ngọn gió nồm từ ngoài bàu thổi vào và bắt chí cho mẹ chồng. Người Đồng Hương cảm động với nghĩa cử hiếu hạnh ấy đã đặt ra hai câu vè:

“Con dâu bắt chí mẹ chồng

Ngồi nhìn ra đồng thấy ổ le le”.

Có ý ví von gia đình này luôn quấn quýt gắn bó với nhau như bầy le le sống trên bàu nước. Gia cảnh rất nghèo, người con dâu chỉ có được hai cái quần lủng liểu mặc thay đổi để đi làm. Những chỗ rách chị ta lấy dây chuối cột túm lại có tất cả chín túm. Buổi chiều đi làm về chị thấy cái quần rách kia được giặt phơi ngoài cây sào sau hè. Chị biết chính người mẹ già còng lưng làm giúp công việc ấy. Quá xúc động chị đi vội vào nhà ngồi xuống ôm chân bà mẹ chồng và ứa nước mắt nói:

“Nam mô hai chữ từ bi

Cái quần chín túm nó đi đâu rồi?”

Bà mẹ già móm mém miệng nhai trầu âu yếm trả lời với con dâu:

“Quần chín túm giặt phơi ngoài rào

Chờ khô lấy vào mẹ vá cho con”.

Câu chuyện cổ tích xứ Đồng Hương khá cảm động, chỉ đơn giản chừng ấy thôi, tuy nhiên nó toát lên một triết lý nhân sinh đó là chữ từ của bà mẹ chồng và đạo nghĩa tam tòng tứ đức của đứa con dâu. Câu chuyện ấy không biết có thật như vậy hay không, dẫu có thật hay không thật đi chăng nữa, thì vẫn là những lời dạy dỗ một tấm gương sáng để soi, trong đó cô động và long lanh thành hạt minh châu, biểu tượng cho tâm hồn thuần khiết trinh nguyên của người phụ nữ đồng quê Việt Nam.

SỰ tích con chim kéo vẢI

Xứ Đồng Hương được núi non vây bọc, nơi đây có đủ các loài chim, từ sáng đến chiều hãy đến bìa rừng sẽ tha hồ nghe chúng hót ca nhiều âm tiết khác nhau như những bản nhạc rừng du dương thánh thót. Có tiếng hót âm tiết nghe vui tai, lại có những tiếng chim hót nghe rất sầu thảm. Cũng từ đó tại xứ Đồng Hương còn lưu truyền những chuyện cổ tích các loài chim xin đơn cử sau đây:

Ngày xưa thật xưa gia đình kia có hai vợ chồng bị bện thiên thời đột tử, bỏ lại một bà mẹ già và đứa con gái lên mười tuổi. Nhà nghèo lắm hai bà cháu sống nương tựa lẫn nhau, một năm nọ đồng ruộng bị hạn hán mất mùa, rất tội nghiệp bà nội bị mù mắt, đứa cháu phải theo nguời làng sang các vùng dưới mót đậu lúa về nuôi bà nội. Sáng đi chiều về nhưng mót lượm đậu lúa chẳng được bao nhiêu. Đứa cháu gái lấy số đậu lúa có được ấy giã tróc vỏ nấu cháo đặc nhường cho bà nội ăn, còn nó chỉ húp một chén nước hồ cầm hơi.

Lâu ngày dãi dầu đi lượm mót, đứa cháu gái bị kiệt sức và chết, giờ này bà nội mới biết chính bà ăn cháo đặc còn cháu gái chỉ uống chén nứơc. Bà đau buồn thương nhớ và chết theo sau đó. Hồn bà bay lượn quanh núi rừng và biến thành con chim kéo vải. Từ đó cho đến mãi ngày nay cứ đến mùa đậu lúa thu hoặch, con chim kéo vải nhớ lại đứa cháu nội ngày xưa nên luôn miệng đỗ dài tiếng chiêu hồn đứa cháu nghe rất u buồn: “Lúa trổ đổ chín về ăn bớ cháu!”.

SỰ tích con chim đa đa

Cũng căn cứ theo tiếng chim hót các cụ già Đồng Hương kể lại sự tích con chim đa đa như sau:

Ngày xưa có ông cha chồng lúc còn nhiều của cải, thì đứa con dâu tỏ vẻ lễ phép cung phụng ông. Đến một lúc nọ gặp phải tai nạn bị khánh kiệt tài sản, ông trở nên nghèo khổ cơm không đủ để ăn. Lúc này con dâu vô tâm trở mặt nó hất hủi bạc đãi cha chồng, đã lắm lần nó trộn cát vô cơm đưa cho ông ăn, ông buồn tủi rồi bệnh chết. Ngày đám ma của cha chồng vợ chồng nó làm cổ lễ rất lớn để cúng hầu che mắt mọi người. Linh hồn ông buồn giận biến thành con chim đa đa đậu trước cửa ngõ nhà gọi vô: “Bới cơm cát cúng cho cha”. Bởi vậy ngày nay loài chim đa đa thường sống ở bìa rừng, đỗ âm thanh dài nghe tương tự như câu trên. 

SỰ tích chim năm trâu sáu cỘt

Các cụ kể rằng: ngày xửa ngày xưa có tên địa chủ mướn một thằng nhỏ chăn năm con trâu, lão ta giao kèo với cha mẹ nó, công chăn trâu chờ đến cuối năm sẽ trả tiền. Trâu không nhốt chuồng mà chiều lùa về phải cột vào năm cây nọc. Thời gian trả tiền công cho thằng chăn sắp đến, tên địa chủ bèn bày trò lừa gạt. Buổi sáng chờ cho thằng nhỏ lùa trâu ra bìa rừng, hắn ta vội vã trồng thêm một nọc nữa là sáu.

Chiều lùa trâu về thằng chăn cột mỗi con vào một cây nọc như thường lệ. Tên địa chủ giả đò ra kiểm lại trâu và la lên rằng thiếu một con vì còn dư một cây nọc chưa cột trâu vào. Hắn bảo thằng chăn ra ngoài núi tìm cho được con trâu lùa về, nếu không có thì số tiền công kia sẽ bị trừ vào con trâu đã mất. Thằng nhỏ biết mình bị lừa gạt nhưng không thể kêu gào vào đâu được, quá uất ức nó thành bệnh mà chết. Hồn nó biến thành con chim rừng, rồi từ đó mỗi khi trời rạng sáng cho đến chiều tối, người ta thường nghe con chim này luôn miệng kêu oan âm thanh thật tội nghiệp: “Năm trâu sáu nọc, năm trâu sáu nọc”.

Còn nhiều chuyện cổ tích khác nữa như con chim thua tuốt, nguyên hậu thân của thằng đánh bạc, con chim tu hú hậu thân của nguời đi núi tìm trầm kì bị lạc, con quạ hậu thân của mụ bán bánh xèo…

(Tất cả các chuyện cổ tích trên đều do các cụ già Xứ Đồng Hương kể lại).

7. Đồng Hương Thời Kỳ Sau Năm 1954 Đến Nay :

Thủa ban đầu xứ Chiêm Dân Đồng Hương thuộc tổng Thân Thượng, sang triều Thái Đức ( Nguyễn Nhạc) lại thuộc vào tổng Hiệp Trung, triều vua Gia Long cho nhập vào tổng Thân Thượng như cũ. Sau năm 1954 cấp huyện tổng, xã được bãi bỏ, xứ Đồng Hương cùng với bốn làng xã vùng giáp ranh phía dưới lập thành xã Ninh Thượng. (Ninh Thượng không phải là địa phương có người Thượng ở, mà có ý nghĩa là xã vùng cao).

Sau tháng 4 năm 1975, mặt tây nam xã Ninh Thượng là Sơn Điền Nàng Hai, lập thành khu kinh tế mới Tân Phong thuộc xã Ninh Xuân. Mặt chánh tây xã Ninh Thượng lập khu kinh tế mới Ninh Trang và làng cấy dân Tân Hiệp mặt nam. Bốn làng phía dưới xã Ninh Thượng cũng sáp nhập vào xã Ninh Trung. Trong thập niên 90 (thế kỷ XX) khu dân cư Đồi Đỏ được tự lập và đất đai mỗi ngày mỗi mở rộng, cây công nghiệp mía đường được nông dân trồng cấy bạt ngàn.

Hiện nay xã Ninh Thượng bao gồm cả các địa bàn mới lập như Tân Hiệp, Đồi Đỏ, Ninh Trang, dân số tổng cộng gần bảy ngàn người. Thác Bay Hạ hay còn gọi là Bến Hội Đàm ở đầu khu vực Ninh Trang một địa điểm có tiềm năng khai thác thành thắng cảnh.

Về mặt hạ tầng cơ sở có đường trải đá và trải nhựa chạy về đến tận trung tâm xã, đường làng được bê tông hoá, điện sáng phủ khắp mọi thôn xóm. Về phương diện giáo dục, xã Ninh Thượng có trường cấp một và trường cấp hai Ngô Thì Nhậm. Ngoài ra trạm xá và chợ búa cũng hoàn chỉnh. Nói chung đời sống dân chúng tương đối phát triển, dù vậy vẫn còn vài mặt hạn chế.

Năm 2005 nơi đây số người rà sắt vụn phát hiện những khối tiền kẽm rất lớn và nồi đồng chôn dưới đất rải rác trong khu vực. Số tiền kẽm này có niên hiệu các vua nhà Minh, Thanh như Vạn Lịch thông bảo, Khang Hy thông bảo, Càn Long thông bảo… và một số khác có niên hiệu vua Lê và Chúa Nguyễn như: Cảnh Hưng thông bảo, Cảnh Nguyên thông bảo, Thiệu Phù thông bảo, Tường Phù thông bảo, Thiên Minh thông bảo, Quang Đạo thông bảo…

Theo tôi số tiền kẽm này được chôn dấu trong giai đoạn loạn lạc lúc Tây Sơn và Chúa Nguyễn đang tương tranh, người giàu có hoặc khách buôn chôn dấu để chờ lúc thuận tiện sẽ thu hồi lại, không ngờ chiến tranh loạn lạc tiếp diễn và chủ nhân khối tiền đó cũng có thể đã chết.

Trong tương lai, xứ Đồng Hương tức xã Ninh Thượng sẽ còn có những khám phá mới lạ bất ngờ khác.

võ triỀu dương

 

Về trước

Mọi thông tin về Website xin gởi về webmaster@ninhhoatoday.net