QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Tác Giả

Ngô Văn Ban

Sinh năm 1942

Võ Cạnh - Nha Trang

Dạy Việt văn ở TH Ninh Hòa

1970-1974

Nhà giáo ưu tú, hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Khánh Hòa, hội viên Hội Văn nghệ Dân gian VN.

Tác Phẩm

*Sổ tay từ ngữ phong tục tập quán về việc sinh, việc cưới, việc tang, việc giỗ của người Việt:

Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ...

* Món ngon năm chuột

 * Chuyện chuột năm Tý

* Xung quanh chuyện kỳ nam, trầm hương ở Khánh Hòa

* Vịt lội Ninh Hòa

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

     

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NGÔ VĂN BAN

SỔ TAY TỪ NGỮ PHONG TỤC TẬP QUÁN VỀ VIỆC SINH, VIỆC CƯỚI, VIỆC TANG, VIỆC GIỖ CỦA NGƯỜI VIỆT

(Kỳ 2)

CHUYỂN BỤNG ĐẺ : Đau bụng đẻ (Xem LÂM BỒN)

CHỬA HOANG : (xem HOANG THAI)

CHỬA TRÂU : Người đàn bà mang thai quá 9 tháng 10 ngày theo thông thường mà không sanh, còn gọi là LÊN THÁNG. Còn tại sao gọi là CHỬA TRÂU ? Vì con trâu mang thai đến 10 tháng mới đẻ. Có lẽ vì thế mà gọi người đàn bà mang thai quá ngày mà không sinh là CHỬA TRÂU. Các cụ xưa giải thích CHỬA TRÂU là do lúc mang thai, người đàn bà bị đuôi con trâu quệt vào trúng bụng. Hay đi đường, vô ý giẫm vào phân trâu. Hay vô ý bước ngang qua sợi dây cột trâu.

Có người cho rằng CHỬA TRÂU có lẽ là do CHỬA LÂU đọc trại ra.

Ngày xưa, khi gặp trường hợp này thì người chồng dắt con trâu ra giữa sân, lấy dao cắt đứt sợi dây thừng buộc mũi trâu, trâu sổng thì con sổ. Từ lâu, tiếng Hán Việt còn có nghĩa là sợi dây thừng buộc mũi trâu (theo Thiều Chửu, sđd), như vậy cắt dây thừng buộc mũi trâu tức là trừ bỏ cái lâu đi, cho người đàn bà mau sinh con. Có nơi gia đình đi xin gạo nhà hàng xóm, về bỏ vào túi treo trước cửa nhà mình. Cứ mỗi lần người đàn bà mang thai đi ra, đi vào, đưa tay bóp vào túi gạo. Nếu làm đều đặn như thế sẽ sớm sinh (?).

CHỮA BỆNH VÀ PHÒNG BỆNH CHO TRẺ SƠ SINH : Thời xưa, khi khoa học chưa phát triển, chỉ có nền Đông y, việc chữa trị bệnh dựa vào các thầy thuốc Bắc, dựa vào sự chế biến các loại cây cỏ, hoa quả, động vật …  Nhưng đa số người dân, từ người nông dân ít học, nghèo khổ cho đến giới giàu có, thượng lưu, họ đều có nhiều phương pháp chữa bệnh và phòng bệnh cho trẻ sơ sinh, được lưu truyền trong dân gian qua nhiều thế hệ. Chỉ trừ trường hợp đặc biệt không chữa trị được, họ mới tìm đến các thầy thuốc.

Sau đây là vài phương pháp chữa một vài bệnh của dân gian mà người viết thu lượm được:

Khi trẻ không muốn bú hay bú ít, bắt một con nhện đang sa hay ổ trứng nhện, đốt thành than hòa với nước cho trẻ uống. Hoặc dùng một củ hành tím chưng với sữa mẹ, cho trẻ uống. Khi trẻ bú xong, bị ọc sữa, dùng gạo lúa cũ cùng với vỏ quýt khô và lá cây hoắc hương sao vàng sắc cho trẻ uống. Khi trẻ bị đau bụng khóc đêm, dùng tim (bấc) đèn hoặc giấy bồi xe nhỏ đốt cháy và thổi hơi nóng vào lỗ rún và vùng quanh lỗ rún, cốt làm cho ấm bụng trẻ. Có khi trẻ ngủ li bì không dậy, phải xin vài cọng tóc mai của người khác, phảy phảy vào miệng trẻ cho nó thức dậy, chứ không lay trẻ. Đứa trẻ nứt cục (nấc), lấy lá trầu non nhai nhỏ đắp lên trán hay cho uống nước, con trai 7 ngụm, con gái 9 ngụm (ý nam 7 vía, nữ 9 vía). Đứa trẻ lên đậu mùa, treo một bó giấy tiền, hay trồng một cây lá ráy vào một chiếc nồi đất, hay cài một cành kinh giới ở ngoài ngõ để giữ mệnh cho trẻ. Khi trẻ bị bệnh đẹn vôi, do một loại nấm gây cho vòm miệng và lưỡi những đốm trắng như vôi, dùng cây cỏ mực, vò nát, vắt lấy nước, chà vào miệng, lưỡi cho thật sạch, mỗi ngày làm nhiều lần.

Cách chữa bệnh cho trẻ của dân gian chủ yếu dựa vào cây cỏ. Có thể có trường hợp trị hết bệnh và từ đó lưu truyền cho các thế hệ sau.

CÓ BẦU : (Xem CÓ CHỬA)

CÓ BỤNG : (Xem CÓ CHỬA)

CÓ CHỬA : Còn gọi là CÓ BẦU, CÓ BỤNG, CÓ MANG, CÓ NGHÉN, CÓ THAI, chỉ người đàn bà đang mang thai, sắp đẻ con.

CÓ MANG : (Xem CÓ CHỬA)

CÓ NGHÉN : Có chửa, có thai (Xem ỐM NGHÉN)

CÓ THAI : (Xem CÓ CHỬA).

CÓ TIN MỪNG : Ngày bắt đầu có thai, có chửa, biểu lộ sự vui mừng. Sự vui mừng không những ở người vợ, người chồng mà còn ở cả đại gia đình người chồng, người vợ. Nhưng TIN MỪNG không ở những người đàn bà không có chồng mà chửa, đó chỉ là một tai vạ, sẽ bị làng nước bắt tội, TỘI CHỬA HOANG, như phạt nộp tiền, nộp trâu..

CON ĐẦU LÒNG : (Xem CON SO).

CON NUÔI : Đứa con được một gia đình khác xin nhận về làm con nhà mình. Người xưa có phân biệt 3 loại CON NUÔI :

Con nuôi chính thức có 2 loại : . - Con lập tự là con trai được gia đình không có con trai xin về nuôi (thường là con của anh chị em ruột) để săn sóc mình khi về tuổi già, chết đi có người hương khói, cũng để tang 3 năm như tang cha mẹ đẻ, có quyền thừa kế gia tài …

                                                           - Con bị cha mẹ bỏ rơi (hoang thai), hay mồ côi cha mẹ, hay cha mẹ nghèo không nuôi được, gia đình khác nhận về nuôi để làm phúc. Nếu nuôi từ nhỏ, đến lớn, người con nuôi này cũng được hưởng mọi quyền lợi như các người con khác của cha mẹ nuôi, được dựng vở gả chồng, được hưởng một phần gia tài khi ra ở riêng và cũng để tang cha mẹ nuôi 3 năm.

Con nuôi danh nghĩa là đứa con theo tử vi xung khắc với cha mẹ nên cho hay bán về một gia đình khác cho dễ nuôi. Hay gia đình HIẾM HOI, không có con xin con về nuôi.

Con nuôi giả vờ là đứa con khó nuôi, tin rằng vì sinh vào giờ xấu, tà ma quấy nhiễu nên ĐEM CON BỎ CHỢ, ĐEM CON BỎ NGÃ BA ĐƯỜNG rồi mật báo người khác đến bế về nhà họ nuôi vài ngày. Sau đó, cha mẹ đứa bé đến chuộc về…

CON RẠ : Đứa con sinh sau đứa con đầu lòng, sau đứa CON SO.

CON RANH CON LỘN : Người xưa tin rằng đứa trẻ chết non chết yểu là do hồn ma bắt. Đây là hồn đứa trẻ chết đầu tiên, nó lại đầu thai trong trẻ kế tiếp rồi bắt trẻ này chết và cứ tiếp tục như thế cho đến khi có gì đó làm gián đoạn, hiện tượng đó gọi là CON RANH CON LỘN. Tìm ra nguyên nhân việc trẻ chết như trên để trừ là việc của thầy pháp, thầy bói, cô đồng. Đối với những người có sa sẩy, thầy bắt bà mẹ đang mang thai mang yếm vàng hay đỏ, có chữ phù phép, hoặc mang trên cổ nhiều túi đựng bùa. Trong trường hợp bị SẢY THAI, thai nhi được chôn cất với nhiều lễ nghi phù phép nhằm cản trở chúng trở lại làm hại những lần thai nghén về sau. Có nơi còn thực hiện việc ghê gớm là lấy xác đứa trẻ mới chết chặt ra nhiều đoạn rồi mới chôn, cốt để làm cho con ranh sợ mà không dám đầu thai lộn lại (theo Đào Duy Anh, Việt Nam văn hóa sử cương, sđd, trang184)

Ngoài ra, có những phương cách trị lộn kiếp này: lấy nhựa chuối, nhọ nồi hoặc mực tàu đánh dấu vào đứa trẻ, tin rằng, trẻ bị đánh dấu như thế, không dám trở lộn lại nữa.

Theo khoa học, hiện tượng trên có lẽ do chứng ngưng tập hồng huyết cầu, di truyền qua nhiều thế hệ. Người có loại máu Rhésus (Rh + ) chiếm đa số, còn số ít người có loại máu Rhésus (Rh - ). Vợ chồng không cùng một loại máu kể trên, ví dụ chồng Rh + , vợ Rh - , khi có thai lần đầu, bào thai là máu của cha có hồng huyết cầu thâm nhập vào máu mẹ, sinh ra chất kháng thể antirhésus. Bào thai này vẫn phát triển, sinh ra nuôi được, nếu chết là do bệnh khác. Nhưng từ đứa bé thứ hai về sau, bào thai nào cũng bị chất kháng thể antirhésus của mẹ làm cho hồng huyết cầu của bào thai bị ngưng tập dần dần, khiến đứa bé bị chết trong bụng mẹ, hoặc sinh non rồi chết, hoặc sinh ra một thời gian ngắn, nhiều nhất là hai tháng rồi chết, gan và lá lách sưng to, da vàng. Khoa học ngày nay có thể cứu đứa bé khỏi chết, nếu nó sinh ra còn sống. Đứa bé được rút từ 30 đến 60 phân khối máu ra, thay vào đó số lượng tương đương máu Rh- của người nào khác thì nuôi được, nhưng không cho bú mẹ, vì trong sữa mẹ có chất kháng thể antirhésus.

CON SO : Đứa con được sinh ra lần đầu, đứa CON ĐẦU LÒNG (Xem SINH CON SO).

CON TRAI NỐI DÕI : Theo Nho giáo, người con bất hiếu nặng nhất là người con trai, nhất là con trai trưởng, có vợ mà không có con, bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại. Không có con là tuyệt tự, huyết thống tới người đó là tắt, không ai nối dõi tông đường, không ai phụng thờ tổ tiên. Người nối dõi phải là người con trai, có sinh nhiều gái, kể như không, nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô. Người xưa cho rằng con gái thờ phụng tổ tiên, khi cúng tế, ông bà tổ tiên không về hưởng, chỉ được thờ cúng cha mẹ mà thôi. Vì thế, vợ chồng không có con trai, phải lấy vợ khác cho chồng, mong sẽ có con trai để thừa tự. Luật xưa, trong thời gian cư tang, tang cha hay mẹ, người con không được có con, nếu có mang, phải xử theo luật. Nhiều người trong lúc cư tang phải chết mà không có con cháu. Vì thế, sau đó, luật cho phép những người không có con hay chưa có con trai, trong thời gian cư tang được sinh sản bình thường. Về thời chúa Nguyễn, có Chúa Thế Tông Nguyễn Phúc Khoát (Võ Vương) (Trị vì 1738-1765), cứ sinh con trai là chết yểu, nên đã quyết định những đứa con trai của ông sẽ gọi bằng tên con gái. Vì thế, có từ mệ, là từ để gọi người phụ nữ cao tuổi (là bà, là mụ), nay dùng để gọi các thành viên nam mới ra đời. Đó là cách đánh lừa các vong hồn dữ thích lùng bắt con trai, cho mắc bệnh rồi chết, để đem chúng đi về hầu hạ mình. Con gái thì chê, ác thần không bắt. Dân thường cũng có cách đánh lừa như thế, gọi con trai bằng con gái, hay đặt tên con trai như tên con gái, để tóc, ăn mặc con trai giống như con gái ...

Dân thường không có con trai, phải đi CẦU TỰ, cầu thần thánh cho mình đứa con trai để lập tự về sau. Khi có mang, người phụ nữ nào cũng muốn biết mình sẽ sinh con trai hay con gái. Ngày nay, đi siêu âm là rõ. Nhưng ngày xưa, phải nhờ các thầy, như thầy thuốc Bắc xem mạch rồi đoán. Cũng có những phương cách, kinh nghiệm của dân gian đoán trước sinh trai hay gái, như Toan Ánh trong Nếp cũ, con người Việt Nam (sđd) có ghi lại như sau :

                   “a) - Theo người Tàu thì con trai nằm bên mé trái, con gái bên mé phải người mẹ, nam tả nữ hữu. Vì vậy người ta đoán rằng khi cái thai nằm chếch về mé trái, người mẹ sẽ sinh trai, còn nằm chếch về mé phải, người mẹ sẽ sinh gái.

                     b) – Khi người mẹ đang đi, người ta gọi giật lại. Nếu người mẹ quay về bên trái sẽ sinh trai, còn quay về bên phải thì sinh gái.

                     c) – Bụng người mẹ dẹp, sinh con trai, bụng tròn sinh con gái

                     d) – Khi đứa trẻ cựa trong bụng, nếu thấy động ít, sinh con trai, còn thấy động nhiều nặng bụng, sinh con gái.

                     e) – Nằm mơ thấy những giống vật to mạnh như voi, gấu, beo, cọp sinh con trai; còn thấy những vật mảnh rẻ như rắn, rết sinh con gái.

                     f) – Tín ngưỡng của ta cho rằng nam thuộc dương, nữ thuộc âm. Nếu tính theo tuổi chồng, tuổi vợ, tháng có thai và tháng sẽ sinh người ta đoán con trai hay con gái.

                          Đó là những cách đoán của phương Đông. Từ ngày chung đụng với các nước Âu Tây ta lại có thêm cách sau đây để đoán sinh con trai hay gái nữa:

                     g) – Lấy chiếc nhẫn cưới của người mẹ buộc vào một sợi tóc cũng của người mẹ rồi cầm đầu sợi tóc giơ tòn ten trên rốn người mẹ. Nếu nhẫn lắc lư đưa từ bên nọ qua bên kia là con trai, còn nếu nhẫn soay tròn là con gái (trang 31-32)

                           Khoa học hiện đại xác nhận giới tính của một đứa trẻ được xác định bởi hai nhiễm sắc thể giới tính. Một tế bào giống đực bình thường có 1 nhiễm sắc thể X và 1 nhiễm sắc thể Y, còn tế bào của giống cái có 2 nhiễm sắc thể X.

CÔ ĐỠ : (Xem BÀ MỤ)

CUNG LONG : (Xem ĐỔ PHONG LONG)

CÚNG BÀ MỤ :  Theo sự tin tưởng của dân ta, đứa bé có hình con người như thế là do MƯỜI HAI BÀ MỤ nặn. Mỗi BÀ MỤ nặn một số bộ phận của đứa trẻ. Do đó, để biết ơn, gia đình thường tổ chức cúng mụ trong ngày ĐẦY CỮ hay sau 30 ngày (ĐẦY THÁNG). Lê Quý Đôn trong sách Vân Đài loại ngữ (sđd) có viết: “ Tục Lĩnh Nam, những nhà giàu có, đẻ con được 3 ngày, hay đầy tháng, tắm rửa cho con, rồi làm một bữa cơm dẻ tròn (tức là nắm chim chim) để cúng mụ ” (...) “Tục nước ta sinh con được ba ngày chỉ làm vài mâm cỗ cúng mụ ...” (trang 200). Cúng bà mụ, không những để tạ ơn đã phù hộ cho “mẹ tròn con vuông” trong hoàn cảnh, điều kiện chưa bảo vệ được mẹ con, mà còn cầu xin bà phù hộ và tập dạy cho trẻ biết cười, biết lật, bò, đi đứng, ăn nói ..., tránh được những bệnh tật, tà ma quấy phá.

                     Đồ lễ cúng mụ phải sửa soạn đủ cho 12 bà và mỗi vật cúng phải là con số 12 cho 12 bà: 12 đôi hài, 12 cái mũ, 12 bộ quần áo, 12 trâm vàng, một đĩa bày 12 trái cây, 12 chiếc bánh, 12 con ốc, 12 miếng trầu .. Trong Nam Bộ, có tục cúng xôi, 100 viên chè trôi nước, một con vịt luộc, rượu đế. Thức cúng được dọn thành hai mâm: một mâm bày trên bàn thờ tổ tiên và một mâm cúng 12 Bà Mụ, lập một bàn riêng. Sau bữa cúng là bày tiệc ăn mừng. Nhà nghèo ít khi cúng, do túng bấn và con đông năm bảy đứa không có gì ăn, lấy đâu ra lễ vật mà cúng.

                     Ở vài nơi nước ta có chùa thờ Bà Mụ. Như ở Hội An, có chùa Bà Mụ, xây dựng năm 1686 tại làng Cẩm Hà, thờ Sanh Thai Thập Nhị Tiên Nương. Hàng năm, đến ngày mồng 2 tháng 2 Â.L, tổ chức cúng lễ rất long trọng, nhằm tưởng niệm các nữ thần có quyền lực trong sinh sản và bảo vệ nòi giống của cộng đồng. Tại điện Ngọc Hoàng ở Đa Kao, TP Hồ Chí Minh có 12 pho tượng Bà Mụ, trong tư thế “ngồi ngai”. Theo bài báo Cuộc tìm kiếm gốm Cây Mai đăng trên báo Thanh Niên (thứ Tư, 6.5.2000), tác giả Huỳnh Ngọc Trảng cho ta biết về 12 pho tượng, “mỗi tượng lại có một kiểu ngồi độc đáo. Về thể dáng: có tượng ở dạng nhìn thẳng, lại có tượng có dạng nhìn nghiêng. Còn động tác: có Bà Mụ đang tắm cho trẻ, có tượng bồng trẻ, có tượng vừa bồng một trẻ vừa chăm sóc một trẻ khác đang nằm nôi, có tượng cầm bình sữa, có tượng nấm sữa cho trẻ bú, có tượng Bà Mụ đang chải tóc với hai đứa trẻ bám vào gấu áo, lại có tượng Mụ bồng bé bú và tay kia với ra sau đưa cái bánh cho đứa trẻ thứ hai địu ở lưng ...”

                     Theo tập tục, khi các bá tánh đến lễ bái và cầu xin, họ thường mang đến bộ quần áo và nữ trang mặc cho tượng. Sau đó, họ dùng chỉ đỏ “miệt” vào tay, vào cổ các tượng, như một “cam kết” nào đó giữa họ và chư vị nữ thần bảo hộ việc thai sản. Hàng năm, cứ đến ngày 25 tháng Chạp Â.L cử hành lễ thay trang phục cho các nữ thần.

                     Tại Quảng Ngãi, trong bài viết của A.Laborde về Tỉnh Quảng Ngãi, đăng trong Tập san Những người bạn Cố đô (Bulletin des amis du Vieux Hué) tập XII, năm 1925, tác giả cho biết “Ở làng Hà Khê, có chùa Bà Mụ mà những người đàn bà hiếm muộn thường đến cầu cúng. Có 12 bà vú nuôi ngồi bên cạnh Bà Mụ, mỗi bà vú nuôi bồng một đứa trẻ trên tay; nếu bà cầu xin với một trong những vú nuôi ấy, thì hãy cột một dây lụa đỏ vào cổ của chú bé và, thưa các bà, các bà sẽ có một đứa con trai bụ bẩm trong năm đó; nếu bà thích một bé gái, thì hãy cột một dây lụa xanh, phương cách cầu tự đó là chắc chắn thành công, những tín đồ người An-nam xác tín như vậy, nhưng bà đừng bao giờ cầu nguyện Bà Mụ cho bà ngừng thai nghén sinh đẻ; bà sẽ bị trừng phạt về điều đó, nếu bằng cách làm ngược lại sự phát triển và sự sinh sôi không ngừng các cành, nhánh hậu duệ của bà “ (sđd, trang 308).

CÚNG ĐẦY CỮ : (Xem ĐẦY CỮ)

CÚNG ĐẦY NĂM : Đứa trẻ được một năm, gia đình tổ chức cúng đầy năm, tức là cúng ĐẦY TUỔI TÔI, hay cúng tô tôi hay tôi tôi hay THÔI NÔI, đứa bé đã lớn, không nằm nôi nữa. Lễ cúng này rất quan trọng, nó đánh dấu giai đoạn một đời người. Đứa trẻ bắt đầu lớn, bệnh tật cũng bớt nhiều. Thời gian này, đứa trẻ đã hình thành trí thông minh và cũng đoán xem sau này nó sẽ như thế nào trong cuộc sống nên có tục THÍ NHI, tức là tục thử đứa trẻ. Người ta bày ra trước mặt đứa trẻ, nếu con trai thì cung tên bút giấy, con gái thì kim chỉ dao kéo, thúng mủng bằng nhựa, những đồ vật, vật dụng tiêu biểu cho sự sinh hoạt của các giới sĩ, nông, công, thương. Ngoài ra còn có đồ chơi, bánh kẹo ...Đứa trẻ sẽ lấy một đồ vật nào đó. Từ đồ vật trẻ nhặt lên đó, người ta đoán sau này trẻ sẽ theo con đường nào, chọn nghề gì trong cuộc sống. Sau lễ cúng, nhiều nhà làm cỗ bàn mời bà con khách khứa đến. Khách đến, thường mang quà cho trẻ và cả cho cha mẹ nữa. Ăn mừng trẻ đầy năm là ăn mừng SINH NHẬT lần thứ nhất của trẻ. Vân Đài loại ngữ (sđd) của Lê Quý Đôn có chép: ” Tục nước ta sinh con được ba ngày chỉ làm vài mâm cỗ cúng mụ. Đến ngày thứ 7, thứ 9, đầy 100 ngày, đầy năm, thì làm lễ cáo tổ tiên;  yến tiệc linh đình;  rồi khách khứa đem thơ văn, đồ chơi, quần áo đến mừng. Các lễ trăm ngày và đầy năm là trọng hơn cả. Lễ đầy năm, bày đồ chơi trước mặt trẻ, xem nó lấy món gì, cũng giống như thói tục bên Giang Nam vậy “ (trang 200).

CÚNG ĐẦY THÁNG : Đứa trẻ sinh được một tháng, gia đình tổ chức cúng đầy tháng. Cúng đầy tháng cũng CÚNG 12 BÀ MỤ với những lễ vật quy định. Gia đình khá giả mời bà con bạn bè đến chia vui và ăn cỗ. Khách có quà mừng cho đứa trẻ. Ăn đầy tháng, khách được mời ăn một ít xôi, một ít chè. Khách không quên khen chè ngon, xôi dẻo, mang lại niềm vui cho gia đình. Ở Nam Bộ, trong tác phẩm An Giang, văn hóa một vùng đất (sđd), tác giả Nguyễn Hữu Hiệp đã kể lại lễ cúng đầy tháng ở quê ông: “Lễ đầy tháng, đứa nhỏ được tắm rửa sạch sẽ, thơm tho và được mẹ mặc cho đồ mới (…). Sau đó người ta nhờ một cụ bà đẹp lão, tính tình vui vẻ và biết “móc miếng” tiến hành phần việc của mình theo phong tục. Đây là tiết mục trọng tâm của buổi lễ. “Móc miếng” bằng cách ngồi ẵm đứa nhỏ vào lòng, hoặc để nằm tự nhiên trên chiếu, tay bà lão cầm mấy bông điệp ta chấm vào chén nước lạnh rồi rẩy rẩy lên mặt đứa nhỏ như đùa giỡn với nó. Bị nước văng lạnh, mát, đứa nhỏ hơi giật mình nhưng do dễ chịu nên nhoẻn miệng cười. Cụ bà vẫn tay rẩy nước, mắt trìu mến nhìn đứa bé miệng đọc “bài thiệu” bắt vần, tư thế đang nói chuyện với nó, nội dung mong muốn đứa nhỏ luôn mạnh khỏe; ăn nhiều, chóng lớn; trưởng thành học hành đỗ đạt, làm việc được dân yêu quan chuộng, có ích cho gia đình, xã hội…” (trang 214-215).

D

DƯỠNG THAI : Giữ gìn, kiêng cử để cái thai được yên ổn, nhất là về ăn uống, hoạt động, tâm lý ... (xem KIÊNG CỬ KHI MANG THAI).

Đ

ĐÀN BÀ MANG THAI PHẠM TỘI THEO LUẬT GIA LONG : Luật Gia Long, còn gọi là Hoàng Việt luật lệ ban hành áp dụng vào năm 1813 đời vua Gia Long (Trị vì 1802-1819). Hình luật gồm quyển 20, điều 12 viết về đàn bà phạm tội ghi rõ về cách thụ lý, xử án rất phân minh và rất nhân đạo với phụ nữ mang thai. Theo điều này, phụ nữ mang thai nếu bị xử tra khảo, chờ sau khi sinh nở một trăm ngày mới tra xét. Nếu chưa sinh, quan tra xét làm SẢY THAI thì giảm cho phạm nhân 3 bậc. Còn nếu đánh chết thì quan bị phạt 200 trượng, tội lưu đồ 3 năm. Còn phạm nhân bị án tử hình thì cho phép mụ bà vào nơi giam cấm chăm sóc và cũng cho phép sau khi sinh 100 ngày mới bị án. Chưa sinh mà hành hình thì quan bị phạt 80 trượng, sinh nở chưa mãn hạn mà hành hình, quan bị phạt 70 trượng, quá hạn không hành hình bị phạt 60 trượng. Cho phép một trăm ngày là để cho hài nhi có sữa mẹ mới sống được. (Theo Lược khảo Hoàng Việt luật lệ của Nguyễn Q.Thắng biên soạn, sđd, trang 149-150). (Phạt trượng là đánh bằng trượng, là cây song mây lớn, không róc bỏ những mấu mắt, đầu lớn 3 phân, đầu nhỏ 2 phân 5 ly, dài 3 thước 5 tấc (theo thước ta) ).

ĐẦU THAI : Đi làm kiếp khác, làm người hay vật, theo thuyết luân hồi của Phật giáo.

ĐẦY CỮ : Thời gian người đàn bà sinh kể từ ngày sinh đến đúng hạn 7 ngày nếu là sinh con trai, 9 ngày nếu sinh con gái. Ngày này, gia đình làm lễ tạ ơn 12 Bà Mụ, gọi là cúng đầy cữ và cũng là ngày người xưa cho rằng hết PHONG LONG, ai đến thăm cũng được.

ĐẦY NĂM : Tính từ ngày tháng sinh, đứa trẻ được một năm, còn gọi ĐẦY TUỔI TÔI, THÔI NÔI. Đầy năm, gia đình tổ chức CÚNG ĐẦY NĂM và có tục THÍ  NHI.

ĐẦY THÁNG : Đứa trẻ đầy một tháng tuổi. Thường cháu gái thì tính đầy tháng vừa đủ 28 ngày, cháu trai thì 29 ngày, vì người đời quan niệm gái sụt hai, trai sụt một. Đầy tháng, gia đình tổ chức CÚNG ĐẦY THÁNG cho trẻ.

ĐẦY TUỔI TÔI : (Xem ĐẦY NĂM)

ĐẺ KHÓ : ĐẺ KHÓ là trường hợp sinh bất thường, sản phụ đau bụng đẻ mà không sinh con được. Ngày trước, không thể mổ được như ngày nay, nên người xưa có nhiều cách giúp cho sản phụ sinh nhanh, an toàn bằng cách thực hiện một trong những cách sau:

                    - Viết đầy đủ tên họ một ông quan lớn nào đó vào một tờ giấy. Nếu không biết chữ, có thể nhờ người khác viết. Đem đốt tờ giấy thành tro, hòa tro vào một bát nước, chồng đưa cho vợ uống, vừa đọc câu thần chú đại nhân nhập, tiểu nhân xuất (có ý là người lớn vào, trẻ con ra). Họ tin rằng thần linh sẽ nghe và phù hộ cho sản phụ sinh nhanh. Cách này, để cho sản phụ uống nước tro thật là nguy hiểm cho thai nhi.

                    - Lấy một cái dải rút quần (dây bằng vải để buộc thắt quần) vắt qua bụng vợ. Người xưa còn tin rằng được cái dải rút của một người đàn bà trong xóm sinh đẻ dễ dàng thì thật là tốt. Có nơi, người chồng mang dải rút leo lên mái nhà, vắt qua mái nhà (như tranh Ký họa đầu thế kỷ XX ). Có lẽ, người xưa cho rằng từ dải đồng âm với giải trong từ Việt Hán, có nghĩa là tháo gỡ, cởi, mở, như thế dùng dải rút quần mong được giải gỡ được sự sinh đẻ khó khăn của sản phụ.

                    - Người chồng lấy cây đòn gánh, hoặc cái gậy, đứng giữa nhà liệng ra ngoài sân, mong đứa con lọt lòng mẹ nhanh chóng.

                    - Người chồng leo lên cây cau, tụt nhanh xuống, thể hiện sự mong muốn đứa con tụt nhanh ra khỏi bụng mẹ.

                     Trong bài Đám cưới chuột, một truyện dân gian ở Liễu Đôi (Hà Nam) phản ảnh phong tục tập quán một vùng nông thôn trong việc cưới hỏi, sinh con ... có đoạn nói về việc sinh khó của con chuột cái, được Bà Mụ dạy cho những phương cách sinh nhanh :

- “Đau thì nén chịu, con ơi !

Qua cơn vượt cạn ấy thời rinh rang (thong dong, vui vẻ)

Chú (chuột đực) đi tìm bắc cái thang

Leo nhà ba bậc, lăn đàng năm tao

Rồi ra lặn cọc cầu ao

Xong rồi mới vào liếm láp đồ rau

Cứ y như phép nhiệm màu

Làm xong là đẻ chẳng đau đớn nào !”

                  (Khảo sát văn hóa truyền thống Liễu Đôi, sđd, trang 225-226).

            Như thế, ta còn thấy người xưa, nhất là ở phía Bắc, còn có những phương cách tin rằng  giúp cho sản phụ khi đẻ khó nữa : Bắc cái thang, leo nhà ba bậc, lăn đàng năm vòng (tao), lặn cọc bờ ao, liếm láp đồ rau..

            Người xưa giải thích : Người chồng bắc cái thang rồi leo. Cái thang thường làm bằng tre, tre thì rỗng ruột, do đó mong muốn cho vợ đẻ, cho rỗng ruột. Người chồng leo nhà ba bậc. Chữ bậc, Hán Việt là cấp. Cấp còn có nghĩa là mau, gấp, nhanh ..., người chồng mong muốn vợ đẻ nhanh, đẻ mau. Người chồng nằm lăn năm vòng ngoài đường. Theo chữ nghĩa, đường, chữ Hán Việt là lộ. Lộ còn có nghĩa là phơi bày ra ngoài. Người chồng mong đứa con ra khỏi bụng mẹ nên phải lăn đường. Người chồng còn có thể lặn cọc bờ ao, nghĩa là nhảy xuống ao lặn, lội vài vòng, hay nhổ một cái cọc ở bờ ao. Chữ Hán Việt, ao nghĩa là lõm xuống, trái với đột là nhô lên. Người chồng mong vợ đẻ con cho bụng lõm xuống. Còn nhổ cọc bờ ao là phá bùa yểm để bụng vợ lõm xuống. Có nơi, người chồng múc nước ao về cho vợ uống ba ngụm, thật là mất vệ sinh và nguy hiểm. Còn cách người chồng liếm láp đồ rau, tức là liếm hỏa lò bằng đất nung. Trong chữ Hán Việt có chữ lô, nghĩa là lò lửa. Chữ lô này (bộ hỏa) đồng âm với chữ lô (bộ nhục) nghĩa là bày ra. Vậy người chồng liếm hỏa lò là thể hiện sự nựng nịu con như đứa con được sinh ra, mong con mau ra đời để được cha nâng niu, nựng nịu.

Muốn vợ sinh sớm, người chồng còn có cách: lấy một chiếc cọc đóng vào chân chiếc cối giã gạo bằng đá ở trong nhà. Cái cối xay bằng đá, chữ Hán Việt là ma, có âm đọc là má. Ma còn có nghĩa là gian nan hiểm trở, đau đớn (theo Hán Việt tự điển của Thiều Chửu, sđd)). Như thế, cái cối xay bằng đá là biểu tượng của khó khăn, đau đớn. Lấy cọc đóng vào chân chiếc cối là để yểm, để trừ những khó khăn, đau đớn mà người vợ lúc lâm bồn phải chịu, mong cho vợ được an toàn, mau sinh cho hết đau đớn.

Trong Ký họa Việt Nam đầu thế kỷ 20 (sđd), có bức tranh Lấy củi cháy dở treo xà nhà, vẽ người chồng lấy hai tay treo thanh củi cháy lên xà nhà, bên cạnh giường, người vợ nằm đợi sinh. Chữ Hán Việt có chữ liệu, nghĩa là đốt cháy, bó đuốc, đọc là liêu cũng nghĩa ấy (theo Đào Duy Anh, sđd). Chữ liêu còn có nghĩa là trống không. Như thế, người chồng dùng thanh củi cháy dở thay bó đuốc (liêu hay liệu) treo lên xà nhà mong vợ bụng trống không, tức là đã sinh con ra.

Người xưa, đa số ít học, không hiểu biết nhiều nên có những phương thức bày ra để giúp cho sản phụ lâu sinh cho mau sinh. Hầu hết những phương thức đó là do các thầy pháp, thầy bùa bày ra, dựa vào một số hiểu biết chữ Hán, chữ Nôm, tự do diễn dịch để mê hoặc mọi người. Những phương cách giúp sản phụ mau sinh, xưa có những phương cách đầy mê tín dị đoan như thế, gây không ít nguy hiểm cho sản phụ và đứa con còn nằm trong bụng mẹ

(xem tiếp kỳ 3)

Về trước

Mọi thông tin về Website xin gởi về webmaster@ninhhoatoday.net