QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

 

 

 

Tục thờ Mẫu và nghi lễ ngồi đồng - múa Bóng ở Khánh Hoà

Nguyễn Man Nhiên & Nguyễn Tứ Hải

Từ năm 1653 khi những lưu dân Việt từ các tỉnh phía Bắc theo chân chúa Nguyễn vào khai hoang lập làng, tạo lập cuộc sống mới trên dải đất ven biển cực nam Trung bộ này, họ đã mang theo cả nền văn hóa nơi quê hương bản quán của mình, trong đó có tục thờ Mẫu và nghi lễ ngồi đồng - múa Bóng. Tín ngưỡng thờ Mẫu từ cái nôi của văn minh Đại Việt là đồng bằng Bắc bộ đến đây giao thoa, hòa nhập cùng tín ngưỡng thờ nữ thần Mẹ xứ sở (Pô Inư Nagar) của dân tộc Chăm bản địa đã làm nên tín ngưỡng thờ Mẫu ở Khánh Hòa đầy bản sắc và độc đáo, để lại những dấu ấn văn hóa quan trọng trong khu vực.

Tục thờ Mẫu đã có từ rất lâu ở Việt Nam, do ảnh hưởng từ thời kỳ mẫu hệ xa xưa. Trong quá trình phát triển của lịch sử đã dệt nên hệ thống thần thoại, huyền thoại về Mẹ nhân từ và rất đỗi quyền uy. Người Việt vào định cư ở Khánh Hòa đã tiếp thu có chọn lọc nền văn hóa của người Chăm bản địa. Tục thờ Mẫu như bắt gặp sự đồng điệu trong tâm hồn giữa hai dân tộc Việt - Chăm, với cùng quan niệm về đức Mẹ nhân từ, Mẹ là tất cả. Cùng là biểu tượng văn hóa nên dễ hội nhập, mẹ Chăm cũng như mẹ Việt đều được phụng thờ. Vì thế người Việt tôn thờ nữ thần Pô Nagar của người Chăm như một vị phúc thần, gọi Bà là Thiên Y A Na Thánh Mẫu  hay Bà Chúa Ngọc, vừa linh thiêng vừa gần gũi. Các triều vua nhà Nguyễn cũng phong tặng cho Bà nhiều tước hiệu cao quí như “Thiên Y A Na diễn Ngọc Thánh Phi”“Hồng nhơn phổ tế linh ứng thượng đẳng thần”… Khu quần thể đền tháp Pô Nagar ở Nha Trang có niên đại xây dựng khoảng từ thế kỷ IX - XIII, là một trong những di tích kiến trúc tôn giáo quan trọng bậc nhất trong đời sống văn hoá, tín ngưỡng của người Chăm xưa, nay là nơi thờ Mẫu của cả người Chăm (Pô Nagar - nữ thần Mẹ xứ sở) và của người Việt (Thiên Y A Na Thánh Mẫu). Các thế hệ người Việt vừa nối tiếp nhau giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của mình, vừa biết bảo tồn văn hóa Chăm Pa, tôn tạo điện thờ Thiên Y A Na, làm cho ngọn tháp Pô Nagar mãi đứng vững với thời gian.

Múa Bóng trong lễ hội Tháp Bà

Tục thờ Mẫu chiếm vị trí quan trọng trong thế giới tâm linh của người dân, có sức sống mãnh liệt trong văn hóa cộng đồng. Ngoài Tháp Bà Pô Nagar, Khánh Hòa còn có cả một hệ thống kiến trúc thờ tự tín ngưỡng Thiên Y A Na khá đa dạng, gồm các am (Am Chúa ở Diên Điền, Diên Khánh), các miếu thờ độc lập (miếu Cây Ké thôn Phú Lộc Tây, miếu Thiên Y xã Diên Bình, miếu Cổ Chi ở thị trấn Diên Khánh, huyện Diên Khánh…), các miếu thờ Thiên Y A Na trong quần thể di tích đình làng (đình Vạn Thạnh ở Nha Trang, đình Khánh Cam ở Cam Ranh…), hoặc phối thờ Bà Thiên Y A Na ngay trong đình (trong hầu hết các ngôi đình làng Việt trên đất Khánh Hòa, người dân luôn dành một phần trang trọng để thờ Bà Thiên Y A Na cùng với chư vị thần linh, các bậc Tiền hiền Hậu hiền của địa phương).

Tục thờ Mẫu còn được thể hiện qua các huyền thoại, truyền thuyết về Bà Mẹ xứ sở, về Thiên Y Thánh Mẫu, các trò diễn dân gian và điệu múa dâng Bà trong lễ hội… Tục thờ Mẫu còn được thể hiện sinh động qua lối diễn xướng nhạc chầu văn tế Thánh Mẫu, hát dâng hoa, ngồi đồng - múa Bóng.

1. Tục thờ Mẫu trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng:

Điểm nổi bật trên bức tranh toàn cảnh của văn hóa Khánh Hòa là những hình thức lễ hội dân gian, phản ánh rõ nét về lao động sản xuất, phong tục tập quán, tín ngưỡng của nhân dân. Nông dân có tục lệ mùa xuân cúng đình, hát bộ, gọi là lễ hội đình làng. Ngư dân từ mùa xuân đến mùa thu cúng lăng - đình, hát bộ, gọi là lễ hội cầu ngư. Làng nào cũng có đình, vạn lạch cửa biển nào cũng có lăng (thờ Ông Nam Hải, tức cá Voi). Lễ hội đình - lăng ở Khánh Hòa kéo dài từ tháng Giêng đến hết tháng 10, nhưng rộn ràng hơn cả là từ tháng 2 đến hết tháng 5 âm lịch hàng năm. Ngoài ra còn một số lễ hội khác như lễ hội Thiên Y A Na ở Am Chúa (thuộc xã Diên Điền, huyện Diên Khánh) và lễ hội Tháp Bà ở Nha Trang. Cứ vậy “xuân thu nhị kỳ”, một năm hai mùa vui tế lễ. Nếp sinh hoạt văn hóa này chiếm vị trí rất quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân.

Trong đình làng, vị trí của Mẫu rất được tôn vinh, xuất phát từ quan niệm của người dân: “Mẫu sinh ra đất trời, sinh ra thế giới vạn vật, sinh ra con người… Mẫu luôn bảo vệ, chăm lo sự sống, dạy dỗ và dưỡng nuôi con người. Mẫu là tất cả!”. Gian giữa đình là chánh điện thờ Thành hoàng, bên hữu thờ Tiền hiền khai khẩn, Hậu hiền khai cơ, bên tả thờ Mẫu. Mẫu ở đây tùy từng đình, có đình thờ Ngũ Mẫu (như cụm đình - lăng Cửa Bé thuộc phường Vĩnh Trường), có đình thờ Mẫu Cửu Thiên. Còn gian thờ Thiên Y A Na Thánh Mẫu thì đình nào cũng có. Phần đại lễ hát tuồng thứ lễ dâng Mẫu thì lúc nào cũng phải hát tuồng Bà như vở “Ngũ sắc châu” nói về 5 chị em với 5 màu da khác nhau, đa tài, đẹp sắc, giàu tình cảm, sống nhân hậu, từng giúp vua cha dẹp giặc dữ, cứu dân độ thế.

Ở lăng, gian giữa tức chánh điện thờ Ông Nam Hải - được triều đình nhà Nguyễn sắc phong là “Nam Hải cự tộc ngọc lân tôn thần” thuộc hàng Thượng đẳng thần, bên tả thờ Bà Vạn Lạch - người mẹ đã có công dạy cho con người biết làm nhà để ở, biết sống đoàn kết vạn chài, bên hữu thờ Bà Thiên Y A Na, gian trong thờ các bậc Tiền hiền.

Lăng cũng như đình, có thờ tự là có lễ tế. Nghi lễ tế Mẫu đều có múa dâng hoa, múa đèn. Trong lễ nghinh thủy triều của lễ hội cầu ngư diễn múa dâng hoa trước, rồi mới đến múa siêu, múa bá trạo sau.

Vạn lạch nào giàu khi tế lăng đều tế 3 heo: heo tế Ông Nam Hải, heo tế Mẫu, heo tế Tiền hiền.

Tóm lại, từ cấu trúc xây dựng đình - lăng đến các nghi thức lễ tế, các trò diễn xướng đều tập trung tôn vinh vai trò của Mẫu, thể hiện tục thờ đa thần trong đời sống tâm linh dân gian. Người dân rất tin Bà nên thành tâm làm “lễ trả hiếu”, tự nguyện quyên góp tài lực cho làng vào hội. Dân làng quan niệm vào hội “vui hơn Tết”, vì Tết chỉ có 3 ngày, còn hội diễn ra đến 7 ngày! Không khí toàn làng như bừng vui, náo nhiệt, sự rạo rực hiện rõ trên mỗi khuôn mặt người. Con cháu của làng dù làm ăn xa ở đâu cũng về đông đủ. Lễ tế đủ đầy, tuồng hát tưng bừng... là dấu hiệu của sự làm ăn phát đạt, ấm no hạnh phúc. Người ta hy vọng sự may mắn, tấn tài tấn lộc sẽ đến với mọi gia đình, mọi ngành nghề. Đây cũng là mục đích của lễ hội đình - lăng.

Múa Bóng trong lễ hội Tháp Bà

 Ngoài tế Mẫu trong lễ hội đình - lăng, ở Khánh Hòa còn có lễ hội dành riêng cho Mẫu, đó là lễ tế Thiên Y A Na (còn gọi lễ vía Bà). Hệ thống điện thờ Thánh Mẫu Thiên Y A Na khởi đầu từ Miếu Bà Chăm vùng chùa Suối Ngổ, đến Am Chúa (cả hai đều ở huyện Diên Khánh) rồi đến Tháp Pô  Nagar (người Việt quen gọi là Tháp Bà) bên cửa sông Cái Nha Trang. Hệ thống này từ sâu trong rừng núi đi dần theo lạch sông Cái ra vùng cửa biển. Như vậy Mẫu Thiên Y A Na vùng chùa Suối Ngổ, Am Chúa có trước, tháp Pô Nagar là có sau. Lịch thờ Am Chúa tế ngày 2 tháng 3, tháp Pô Nagar tế ngày 23 tháng 3 âm lịch.

Nghi lễ tế Mẫu Thiên Y A Na đã được Việt hóa rất nhiều. Từ phần chính như tắm tượng, múa hát dâng hoa đến các vật tế như thịt heo, hát tuồng thứ lễ dâng Bà, lễ tôn vương và hát bộ kéo dài luôn mấy ngày đêm hoàn toàn theo nghi lễ của hội đình làng Việt. Về quy mô tế, ở Miếu Bà Chăm (vùng chùa suối Ngổ) chỉ làm lễ dâng hương, còn ở Am Chúa đã là một lễ hội mang tính khu vực. Tuy gọi là “am” (nơi thờ tự nhỏ) nhưng Am Chúa nay là một công trình kiến trúc lớn, đồ sộ giống như một ngôi chùa, có ngoại Tam quan, nội Tam quan, sân chầu, bái đường và chính điện (điện thờ). Trong điện thờ được bài trí hệ thống tượng thờ, các vật thờ… rất bài bản. Nơi đây ngày càng thu hút được đông đảo khách thập phương nên đã dần dần được trùng tu tôn tạo rộng lớn hơn trước để có đủ chỗ cho các tín đồ đến đây bái cúng.

Đến lễ hội Pô Nagar ở Tháp Bà thì thực sự đã mang tầm cỡ quốc gia vì có rất đông quần chúng tham gia với nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa.

Trên ngọn đồi Cù Lao nằm sát tả ngạn sông Cái Nha Trang sừng sững một quần thể tháp Chăm mà nhân dân địa phương quen gọi là Tháp Bà. Đây là nơi người Chǎm xưa thờ Bà Pô Inư Nagar (Bà Mẹ Xứ), nữ thần duy nhất trong vô vàn thần của người Chăm được người Việt thờ phụng dưới tôn xưng Thiên Y A Na Thánh Mẫu. Lễ Vía Bà không những là một lễ hội truyền thống vào loại lớn nhất ở địa phương mà còn thu hút hàng ngàn du khách từ khắp nơi, nhất là các tỉnh phía Nam, nô nức về đây dâng hương, trẩy hội.

Trong tín ngưỡng dân gian của dân tộc Chǎm, hình tượng Pô Inư Nagar chiếm một vị trí hết sức quan trọng. Theo truyền thuyết, Bà là nữ thần Mẹ của đất nước, người tạo ra cây lúa và dạy dân trồng lúa. Các vua Chăm tôn vinh Bà là “Bà Đại Phúc”, “Người bảo hộ tối cao của Vương quyền”. Đối với người Chăm, việc thờ phụng Pô Inư Nagar đã có từ lâu và tồn tại liên tục trong nhiều thế kỷ ở thánh đô Pô Inư Nagar “được xây dựng ở cạnh Kauthara và cạnh biển”. Định cư trên vùng đất này, người Việt đã tiếp thu những yếu tố đặc sắc của văn hóa Chăm, tạo nên một quá trình giao thoa, tiếp biến văn hóa Việt - Chăm rất độc đáo. Tín ngưỡng thờ Thiên Y A Na Thánh Mẫu ở Khánh Hòa và các tỉnh Nam Trung bộ có nguồn gốc sâu xa từ tục thờ Mẫu (Mẹ) ở đồng bằng Bắc bộ. Tín ngưỡng ấy chính là hành trang tinh thần của lưu dân Việt mang theo vào đây tờ thuở đi mở cõi.

 

 Các đoàn Múa Bóng

Trước Tháp Chăm với điện thờ Bà và bao câu chuyện huyền thiêng còn đó, người Việt tìm thấy ở tín ngưỡng này điểm tương đồng với những thần thánh cũ ở quê hương bản quán như Mẹ Âu Cơ, Công chúa Liễu Hạnh, Bà Chúa Thượng Ngàn... tuy khác về tên gọi, nhưng vẫn là tiêu biểu cho hình tượng Bà Mẹ đất, Mẹ Thị tộc, Mẹ lúa, những vị Mẫu - Thần khuyến thiện trừng ác, cứu nhân độ thế. Xuất phát từ điểm chung đó, nữ thần Pô Inư Nagar của người Chăm đã được Việt hóa thành Thánh Mẫu Thiên Y A Na hay còn gọi là Bà Chúa Ngọc, được các triều đại phong kiến phong là “thượng đẳng thần” và tiếp tục thờ tự ngay tại trú sở cũ của Bà.

Hàng nǎm từ ngày 20 đến 23 tháng 3 âm lịch, lễ vía Bà tức lễ hội Tháp Bà được nhân dân địa phương tổ chức rất trọng thể. Trước đây mọi nghi lễ đều do người Chǎm đảm nhiệm, nay chủ yếu do người Việt tiến hành, vì vậy, có một số thay đổi cho phù hợp với tập quán dân tộc. Trước hết là lễ thay y vào giờ ngọ ngày 20 tháng 3. Khi chủ tế dâng cúng trầm hương, hoa quả và khấn vái xong, mười thiếu nữ nết na, xinh đẹp được Ban tổ chức chọn sẵn bắt đầu tháo gỡ toàn bộ xiêm y, mũ miện cũ của Bà đễ lau chùi tỉ mỉ từng đường nét điêu khắc cho đến khi không còn lấy một hạt bụi nhỏ rồi mới mặc xiêm y, mũ miện mới vào. Trang phục của Bà đều may bằng hàng vải quý, thêu thùa công phu, đính kim tuyến, kim sa lóng lánh.

Sau nghi thức tắm tượng và thay y, vị chủ tế bắt đầu một tuần tế gọi là tế gia quan. Sáng ngày 22, các vị tǎng ni, đạo hữu Phật giáo đem hương hoa, ngũ quả, xôi chè, thiết hương án trước tiền sảnh ngôi tháp chính, tụng niệm theo nghi thức nhà Phật, cầu mong Bà phù hộ cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, bội thu. Lễ tế sanh diễn ra đúng nửa đêm 22 rạng 23. Lễ vật có thêm một heo để nguyên con đã cạo lông sạch sẽ và một bát tiết có nhúm lông. Chủ tế đọc vǎn tế thỉnh Bà về chứng giám, có chiêng trống và đội nhạc lễ phụ họa. Lễ tế dứt, diễn ra lễ múa Bóng do các đội múa Bóng người Việt ở địa phương cùng các đội múa Bóng của người Chǎm đến từ Ninh Thuận biểu diễn. Vũ công áo xiêm lộng lẫy, đầu đội hoa tươi, đèn ngũ sắc, uốn lượn nhịp nhàng dưới ánh đèn rực rỡ, cảnh tượng vô cùng ngoạn mục. Những vũ điệu múa Bóng của người Chăm thường điêu luyện, đẹp, có những pha hấp dẫn ghê hồn như vũ công múa trong khi tháp giấy trên đầu đang bốc cháy ngùn ngụt, trong tiếng trống, tiếng kèn dồn dập. Cái khó và nguy hiểm của vũ điệu là những lúc vũ nữ sà sát người xuống mặt đất, uốn lượn như rắn, mà trên đầu ngọn tháp lửa vẫn cháy phừng phừng.

Lễ chánh tế cử hành vào rạng sáng 23 tháng 3 theo nghi thức tế thần của người Việt: có chánh tế, bồi tế, tư chúc, thông xướng… đội khǎn xếp, mặc áo thụng xanh, mang hia theo kiểu cung đình. Các động tác dâng hoa, trầm hương, rượu, đọc vǎn tế diễn ra trang nghiêm, thành kính trong âm thanh trầm bổng của dàn nhạc lễ. Trong thời gian lễ hội còn có một số nghi lễ và trò diễn dân gian mang đậm sắc thái đạo Mẫu như xin xǎm, hầu bóng, thu hút hàng vạn lượt người ngày đêm lũ lượt đến chiêm bái, cầu xin Bà ban cho nhiều tài lộc…

Hệ thống Mẫu đều là các bậc thánh, tồn tại trong thế giới tâm linh của con người. Trong nghi thức tế Mẫu, việc tế lễ dâng hương là nghĩa cử trả hiếu của con người, thông qua người đại diện là ban chánh tế để “Cửu soát tế vật” (kiểm tra lễ vật), rồi “Cung hiến ca diên tựu án tiền khởi võ” (dâng hiến lời ca, tập trung trước án bắt đầu múa). Con người cầu khẩn hầu mong các thần linh chứng giám, độ trì cho được mùa lúa, bội thu mùa cá, cho quốc thái dân an. Tế Mẫu để ngồi đồng múa bóng thì chánh tế không chỉ dừng lại ở đây mà có sự “nhập xác”. Hồn linh của thần nhập vào xác người rồi múa. Xác múa ấy gọi là múa Bóng. Đây là điểm cốt yếu nhất mà chuyên luận này sẽ tập trung giới thiệu.

Nguyễn Man Nhiên & Nguyễn Tứ Hải

 Xem tiếp kỳ 2

Bài liên quan