QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

 

 

 

Tục thờ Mẫu và nghi lễ ngồi đồng - múa Bóng ở Khánh Hoà

Nguyễn Man Nhiên & Nguyễn Tứ Hải

Kỳ 2

2. Chuyện kể dân gian và quan điểm của các nhà tôn giáo thần bí về Mẫu:

Mẫu trong thế giới tâm linh của người dân không chỉ thể hiện trong các lễ hội văn hóa mà còn được thể hiện một cách sinh động bằng những chuyện kể, sự tích, huyền thoại… Nội dung các chuyện kể chủ yếu phản ánh những việc làm phi phàm của Mẫu chăm lo cho thế giới vạn vật, bảo vệ con người - vốn là những sinh linh của Mẹ.

Dân gian có chuyện kể về Mẹ khai thiên lập địa, Mẹ sinh ra đất, ra trời, sinh ra loài người, dạy cho con người biết trồng lúa để sinh sống, hái lá thuốc để chữa bệnh, biết trồng dâu, chăn tằm, dệt vải… Rồi chuyện bà Ngũ Thiên, bà Chúa Kho, bà Liễu Hạnh, bà Nữ Oa... Ở Khánh Hoà có chuyện Thiên Y A Na là tiên nữ bị đọa, ở với vợ chồng ông Tiều bòn khoai, mót lúa, rồi nhập vào cây gió hóa thành trầm kỳ, về sau gặp hoàng tử kết duyên…

Chuyện xưa như vậy, chuyện nay sao? Các cụ thủ từ chăm lo tháp Pô Nagar trước đây kể rằng vào các ngày mồng một, ngày rằm hàng tháng, đặc biệt ngày vía 23 tháng 3 âm lịch, có hiện tượng Mẫu Thiên Y A Na “bay” từ Am Chúa trên núi Đại An về Tháp Bà, rồi lại bay ra Ghềnh Bà mãi ngoài hải đảo thuộc huyện Sông Cầu, tỉnh Phú Yên. Khi Mẫu bay, tà áo dài thướt tha thành vệt sáng dài như dải lụa ngang trời, “nhiều người thấy lắm!”. Dân gian còn truyền tụng rằng cái năm Nhâm Thìn xa xưa, thành phố Nha Trang bị sóng thần, Mẫu cản gió to sóng dữ, chỉ cho sóng chạy dọc đường Độc Lập (nay là đường Thống Nhất), gây thiệt hại không đáng kể. Lại nữa, những ngày đầu tháng 4 năm 1975, Mỹ- Ngụy điên cuồng dùng máy bay ném bom phản công lực lượng giải phóng của Cách mạng tại khu vực Tháp Bà, Xóm Bóng. Mẫu đã đưa tay gạt bom ra, nên bom chỉ nổ ở trên sông và giữa cầu, đâu có vào dân, đâu có vào Tháp!

Người dân Khánh Hoà lâu nay thờ mẫu Thiên Y A Na ở các đình, miếu hay trong các điện thờ như Am Chúa hay tháp Pô Nagar. Phàm làm những việc đại sự thắng lợi, người ta tổ chức tế đình hoặc tế lăng; đến ngày vía Mẫu, người ta tổ chức múa dâng hoa, làm lễ trả hiếu, hát bộ, hội hè tưng bừng.

Từ đức tin trong thế giới tâm linh của dân gian về Thánh Mẫu, các nhà tôn giáo thần bí đã “tranh thủ” khẳng định học thuyết của mình. Họ cho rằng có hai thế giới và mọi người đều có khả năng gặp được Thánh Mẫu. Thuyết “Tứ phủ công đồng” nhằm khẳng định trên có trời, dưới có đất, giữa có con người và thứ tư nữa là có thế giới của thần linh, của người âm (người đã chết). Họ bảo rằng “âm dương đồng nhất lý” nghĩa là hai cõi giống nhau, con người có thể giao tiếp được thế giới thần tiên ấy.

Họ cho rằng trong tâm trí của con người tự nhiên có khả năng sáng suốt đến kỳ lạ, sự sáng suốt kỳ lạ ấy do thần linh can thiệp vào trí não của con người ta mà có. Nghi thức thờ Mẫu được các nhà tôn giáo thần bí xây dựng, bồi đắp lên khá sinh động, trong đó điểm nổi bật là diễn xướng nhạc chầu văn tế thánh mẫu, hát dâng hoa, ngồi đồng múa bóng. Trò diễn nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người muốn vươn tới thế giới thần linh chứa đầy sự thiêng liêng, bí ẩn.

3. Lịch thờ và sự sắp xếp điện thờ Mẫu:

Ở Khánh Hòa, ngoài các điểm thờ Mẫu ở đình, lăng, tháp, còn có các miếu thờ, điện thờ rải rác ở các làng xóm, hoặc tại gia. Hệ thống điện thờ tại gia là của những người tự đặt mình “có bổn phận” chăm lo hương khói cho Mẫu, đồng thời cũng là những nghệ nhân trong trò diễn dân gian ngồi đồng, múa bóng.

3.1 Lịch thờ Mẫu (ngày vía) theo âm lịch:

- Vía Thiên Y A Na ở Am Chúa: 2 tháng 3

- Vía Thiên Y A Na ở tháp Pô Nagar: 23 tháng 3

- Vía Ngũ Mẫu (Ngũ Thiên): 8 tháng 5 (Ngũ mẫu tức năm Bà: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ (Ngũ hành). Quan niệm của các nghệ nhân múa Bóng cho rằng Ngũ Mẫu rất quan trọng. Mẫu lấy đất nặn Phật, đất để cây cối sinh sôi, con người sống trên đất, thác về nằm ngủ yên trong lòng đất của mẹ).

- Vía Cửu Thiên Huyền Nữ (lễ Đức mẹ sanh mẹ đỡ): 9 tháng 9

- Vía đức Diêu Trì Kim Mẫu khai thiên lập địa: 18 tháng 10 (Đây là Mẹ của mọi người Mẹ. Mẹ sanh ra năm vị vua: Thiên Hoàng (được mẹ nhường ngôi), Địa Hoàng (Huỳnh Đế), Phục Hy (Thầy thuốc chữa bệnh), Thần Nông (Thần ngũ cốc), Nhơn Hoàng).

Ngoài ra còn cúng tế vào các ngày mồng một, ngày rằm hàng tháng ở các điện thờ tại gia, hoặc ở các điện thờ Mẫu rải rác nơi làng xóm.

Nếu gặp mùa màng thất bát, làm ăn đói kém thì lịch tế Mẫu vào các ngày trên không liên tục. Còn ở đình, lăng thì chỉ khi nào tế đình, tế lăng mới tế mẫu.

3.2 Sự bài trí và sắp xếp các Thánh Mẫu trong điện thờ:

Điện thờ Mẫu thường chỉ một gian, còn rộng hay hẹp tùy từng điều kiện cho phép. Trước cửa chánh điện là bàn thờ Quan Thế Âm Bồ Tát. Bồ Tát tay cầm bình nước cam lồ, đi trên tòa sen, theo sau là đồng tử. Từ bàn thờ Bồ Tát vào trong chánh điện có sân khấu nhỏ dùng để ngồi đồng múa bóng. Ở giữa gọi là chánh điện, có hai bàn thờ ở hai bên gọi là bên tả và bên hữu.

Ngồi cao nhất nơi Chánh điện là Đệ Nhất Mẫu, mặc áo nhung đỏ, đầu đội mão uy nghi, hai tay xếp vòng ngay ngắn phía trước, chân đi hài đỏ, khuôn mặt trái xoan hồng hào phúc hậu. Bên cạnh Đệ Nhất Mẫu (phía tả) là Mẫu Đệ Nhị, mặc áo xanh, đầu đội khăn đóng, chân đi hài. Bên cạnh, phía hữu là Mẫu Đệ Tam mặc áo trắng, đầu đội khăn đóng chân đi hài.

Giữa chánh điện là đức vua Thiên Hoàng. Hai bên có hai vị quan nhất phẩm hầu. Vua mặc áo vàng, đội mũ cửu long vàng, còn các quan mặc áo xanh, áo đỏ.

Ngồi cuối cùng, tức là ngồi đầu của bệ thờ chánh điện: Cậu Nhất ở bên tả, Cậu Út ở bên hữu. Cậu Út mặt mày tròn trịa xinh tươi, dáng vẻ tinh nghịch. Đầu Cậu thắt khăn lưỡi rìu màu xanh, áo cộc tay chỉ cài một cúc ở bụng. Chân Cậu ngồi vắt ngang, một tay để lên đầu gối, một tay vắt vẻo điếu thuốc chuẩn bị đưa lên miệng để hút. Cậu Nhất về cơ bản cũng vậy, xong đáng vẻ có phần chững chạc hơn.

Bên tả của bệ thờ chánh điện: điện thờ Quan Thánh (Quan Công), có Châu Xương, Quan Bình, hai hầu cận đắc lực của Quan Công đứng hai bên. Ngồi bên dưới là quan Hoàng Bẩy và quan Hoàng Mười.

Bên hữu của bệ chánh điện là Mẫu Chúa Sơn Lâm. Sau lưng Mẫu là bức tranh rừng núi rậm rạp hùng vĩ. Ngồi dưới chân là Cô Bẩy, Cô Mười. Dưới chân bệ chánh điện có tấm gương to, hai bên để các loại mỹ phẩm, nước uống, gối xếp, các loại đồ trang sức như kim găm cài đầu, vòng đeo tay, đeo cổ mạ vàng bạc lấp lánh. Tất nhiên chủ của điện thờ là nữ, vì hầu hết “Cô” mới ngồi đồng múa bóng.

Đối diện với gian chánh điện: miếu thờ Cô ngoại cảnh, chuyên trông coi điện thờ Mẫu. Đó là Cô Ba mặc áo trắng, Cô Năm mặc áo xanh. Cả hai Cô dáng vẻ đều xinh tươi, nhanh nhẹn.

Có nơi đàn ông ngồi đồng múa bóng, họ nặng về Quan Ngài. Khi múa bóng thường thấy xuất hiện cả Tam thánh là Tề - Huyền – Đô (Tề là Tề Thiên khi đã thành Phật, Huyền là Huyền Dân, Đô là Đô Giông). Đây là các nhân vật trong chuyện thần thoại, trong sử cổ đại Trung Quốc, thường được các nghệ nhân ở hai huyện Ninh Hòa và Vạn Ninh thể hiện.

Góc điện thờ đặt một tủ đứng treo phục trang đủ loại, đủ sắc mầu cho nghệ nhân sử dụng trong quá trình múa bóng.

Đây là bức tranh tổng thể về điện thờ Mẫu, nơi thường xuyên diễn ra các nghi lễ cúng tế Mẫu và hát chầu văn ngồi đồng múa bóng. Tuy nhiên đây chỉ là đại diện, có tính khái quát, bởi tùy từng người, tùy phái, tùy nơi thờ mà các thánh mẫu được sắp xếp khác nhau. Nếu nặng về Ngũ Mẫu thì Ngũ Mẫu ngồi ở chánh điện như ở điện thờ cụm đình làng Cửa Bé, Vĩnh Trường; nếu nặng về Thiên Y A Na thì mẫu Thiên Y A Na ở vị trí chính như ở điện thờ đình Phước Hải. Còn cho Diêu Trì Kim Mẫu là quan trọng thì Kim Mẫu ngồi cao hơn cả như điện thờ của Cô Năm Vạn Thắng (tất cả đều ở Nha Trang). Nhìn chung, cấu trúc điện thờ mang đậm tính dân gian, nên yếu tố thích nghi rất cao. Sự bài trí sao cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của từng nơi. Tuy vậy vẫn không mất đi nét đặc trưng tiêu biểu của nó.

Dù có tùy người, tùy phái, tùy cách thế nào chăng nữa, điện thờ Mẫu vẫn có yếu tố chung nhất là ngoài các Mẫu còn có hệ thống các Cô, các Cậu. Bên cạnh Cô Ba nhí nhảnh còn có Cô Năm, Cô Bảy, Cô Mười. Có Cô phải có Cậu. Cậu Út hay “quậy” bên Cậu Nhất chỉnh tề. Ở đây, sự phân biệt cụ thể tính nết từng nhân vật làm phong phú, sinh động trò diễn. Rồi còn có các quan, từ quan nhất phẩm đến quan nhị phẩm, quan hoàng Bẩy, quan hoàng Mười… Có quan nên phải có vua. Ngoài ra còn có các nhân vật trong truyện Tàu, như bộ ba Châu Xương, Quan Bình, Quan Công. Và có cả Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát.

Điều đáng chú ý là trong các đình làng, người dân thờ Mẫu để đền ơn sâu đáp nghĩa cả, trả hiếu cho Mẫu. Chữ hiếu ở tại tâm, thờ tự mang tính tượng trưng, nên bàn thờ đơn giản. Còn tại các điện thờ tại gia, bàn thờ có nhiều Thần, cách thờ tự cầu kỳ, cách thể hiện trò diễn trên sân khấu hấp dẫn hơn. Ví dụ: ngôi điện thờ Mẫu trên hòn đá Chữ ở cửa sông Cái, Nha Trang có hàng chục bức tượng được sắp đặt theo ngôi thứ, chức phận cụ thể. Mẫu lớn nhất ở điện thờ này là Thiên Y A Na. Bàn thờ Mẫu ở tư gia thầy Tám Đũa (tức nghệ nhân Lê Bộc ở Xuân Tự, Vạn Hưng, Vạn Ninh) được thiết kế 3 tầng theo lối giật cấp. Trên ngôi cao nhất thờ Tam Tòa Thánh Mẫu có ba bức tượng của Bà Thiên Y, Bà Địa Mẫu và Bà Cửu Thiên ngồi rất uy nghi. Tầng hai có án thờ Ngũ Hành và Quan Thánh. Tầng dưới cùng để bình hoa và kệ đựng sách kinh.

3.3 Các đội múa Bóng, các nghệ nhân múa Bóng tiêu biểu ở Khánh Hòa:

- Đội Hoa Sơn (Diên Điền, Diên Khánh)

- Đội Kim Thuyền (Suối Đổ, Diên Khánh)

- Đội Nguyên Nhung (thị trấn Diên Khánh)

- Đội Hồng Hoa Điện (Diên Khánh)

- Đội Điện Bà Lương Sơn (Nha Trang)

- Đội Kim Linh Điện (Nha Trang)

- Đội Kim Huyền Ngọc Sơn (Nha Trang)

- Đội Núi Sạn (Nha Trang)

- Đội Bửu Lâm Ngọc (Ninh Hòa)

- Đội Chung Quốc Mẫu (Ninh Hòa)

- Đội Kim Trung Điện (Ninh Hòa)

- Đội Mẹ Hiền Đá Bàn ở Ninh An (Ninh Hòa)

- Đội Năm Mẹ Ngũ Hành (Ninh Hòa)

- Đội Hoa Sen ở Vạn Giã (Vạn Ninh)

- Nghệ nhân Lê Bộc tức thầy Tám Đũa ở thôn Xuân Tự (Vạn Hưng, Vạn Ninh)

- Cô Ba (Suối Cạn, Hòn Hèo, Ninh Hòa)

- Cô Đốc Như ở phường Vạn Thạnh (Nha Trang)

- Cô Năm ở đường 2 tháng 4 (Nha Trang)

- Cô Kiến An ở đường Sinh Trung (Nha Trang)

- Cô Ba Kẹp ở Xóm Bóng, Cù Lao, phường Vĩnh Thọ (Nha Trang)

- Cô Mười Hòa ở Vĩnh Thọ (Nha Trang)

- Gia đình nghệ nhân Lê Tấn ở phường Phương Sơn (Nha Trang)

- Cô Tám Mứt (Diên Thọ, Diên Khánh)

- Nghệ nhân Mười Trầu ở thôn Lập Thạch (Cam Tân, Cam Lâm)

4. Quy trình ngồi đồng - múa bóng:

Toàn bộ điện thờ được trang hoàng lộng lẫy, khói trầm thơm bay nghi ngút, quyện với hương của hoa, của trái cây, âm thanh nhạc chầu văn ngắt quãng, run rẩy, lốp bốp ngập ngừng. Tất cả như gợi sự mông lung huyền ảo, đưa con người đến với thế giới của mộng du.

Hai hàng mâm trái cây chất đầy ăm ắp, xếp ngay ngắn hai bên điện thờ. Trên sân khấu nhỏ, những chiếc chiếu hoa được trải vuông vức, ngồi bên là các ca công và dàn nhạc. Dàn nhạc chầu văn chủ yếu có đàn nguyệt, trống bản, song loan, sáo trúc, gần đây thêm cây đàn ghi-ta điện phím lõm.

Trên điện thờ, ngoài trái cây còn có đồ tế là cơm chay, đậu phụ, canh hoa lý được cúng bày la liệt. Sau lễ tế chính, ai đến dự đều được ăn tự do cơm cúng. Người cúng quan niệm rằng con người sống trên đất Mẹ, cây cũng từ đất Mẹ mà cho trái cho hoa, không chỉ nuôi người và mọi sinh linh mà còn làm cho sự sống thêm phần thi vị. Vì vậy các con chọn những bông hoa đẹp nhất, những trái cây tươi ngon nhất, những chén cơm thơm nhất kính dâng lên Mẹ với tất cả tấm lòng thành.

Trong số trái cây cúng có mâm trầu cau được xếp nguyên buồng xòe hình đuôi công, bó hoa để giữa trông rất đẹp. Đây là lễ vật trọng tâm, vì chỉ có mâm trầu cau mới được để ngay ngắn giữa điện, trước mặt Mẫu Đệ Nhất. Khi ngồi đồng, mâm cau được tế rất kỹ, lộc mẫu phát đầu tiên cho mọi người trái cau này, rồi mọi người cùng ăn trầu. Có khi Mẫu nhập xác, miệng cũng nhai trầu bỏm bẻm.

Đặc biệt là chỉ cúng các loại trái cây và đồ chay. Một phần trái cây do gia chủ điện thờ mua, phần nhiều còn lại do những người “chịu ơn” dâng lễ (hoặc bằng trái cây, hoặc bằng tiền để mua trái cây). Bởi vậy nếu gặp mùa màng thất bát, làm ăn đói kém thì lịch cúng trên cũng không được liên tục.

Ngày tế là ngày vía, ngày mồng một, ngày rằm hàng tháng. Giờ tế tùy chọn giờ tốt trong ngày. Lệ thường sáng từ 8 đến 10 giờ là thời gian cúng tế, 10  đến 11 giờ là hát dâng bông, đến 12 giờ (giờ Ngọ) là giờ Côngồi đồng. Thời gian ngồi đồng từ 12 giờ đến 20 giờ trong ngày. Sở dĩ kéo dài như vậy bởi có xen các trò diễn dân gian như múa dâng hoa, múa lục bình, múa đèn. Số Cô ngồi đồng chủ yếu là 1. Có khi  ngồi 2 Cô hoặc cả một tập thể.

Nếu là ngày vía Đệ Nhất Mẫu, vía Thiên Y A Na hoặc Ngũ Mẫu… thì Cô làm chủ lễ. Đọc lên ngày vía, địa điểm, họ tên danh tánh xong, chủ lễ cùng các con của người đồng làm lễ dâng hương. Nếu ngày mồng một hay ngày rằm thì chỉ cần vái lạy Mẫu chính của điện, dâng hương đăng, dâng hoa, trái cây, mâm cơm chay lên tế Mẫu và các chư thần, sau đó vào ngồi đồng múa bóng ngay.

- Phần nhạc tế: Lễ dâng hương Mẫu có nhạc chầu văn nổi lên trước. Ở một số nơi không có nhạc công thì người ta dùng máy cassette, nếu không có máy thì người ta dùng trống, song loan đổ theo nhạc tế đình.

Sau phần nhạc tế là khâu dâng nhang, rượu, tiếp đến là phần múa dâng hoa (ở huyện Vạn Ninh còn gọi là múa rổimúa trả hiếu).

Đoàn múa dâng hoa chủ yếu là người ở Khánh Hòa, đôi khi có sự phối hợp của đội múa ở Phan Rang ra. Nếu lễ lớn có cả đội vũ nhạc từ Sài Gòn đồng tham gia biểu diễn. Trong ngày vía Thiên Y A Na ở Tháp Bà, phần múa dâng hoa tế mẫu chủ yếu do các vũ nữ người Chăm thực hiện.

Đoàn múa dâng hoa gồm 6, 8, hoặc có khi đến 12 người nữ. Họ mặc áo dài đủ màu, đầu đội khăn đóng, vai vắt khăn vàng cột xuống chéo thắt lưng, dây lưng dài thướt tha, nhìn chung trang phục rất đẹp mắt. Dàn nhạc gồm có kèn, trống vỗ, sáo nhỏ, mã la và lục lạc nhỏ. Nếu không có nhạc công thì dùng máy cassette.

Phần đầu: Đội vũ nữ hai tay kẹp loại dây làm bằng bột giấy quyện với sáp nấu lỏng, xe lại, xoắn như thừng, đốt cháy như nến, gọi là múa dâng hoa linh .

Phần hai: Đầu các vũ nữ đội các mâm hoa và trái cây, gọi là múa dâng hoa hay múa lục bình.

Phần ba: Đầu các vũ nữ đội các mâm có nến thắp sáng, có mâm tháp cao tầng làm bằng giấy, gắn cờ xí, gắn hoa. Có tháp thì đính các loại bánh in bọc giấy kính đủ màu gọi là múa dâng hoa đăng. Nếu ngày vía mẫu Cửu Thiên thì mâm tháp cao chín tầng, gọi là Cửu trùng đài; ngày vía Ngũ Mẫu thì ngũ tháp đài; ngày vía Thiên Y A Na cũng dựng tháp cao tầng song không phân ngũ hay cửu đài, độ cao mỗi mâm tháp từ 60cm đến 80cm, sau đó tháp giấy chính được đốt cháy lên.

Khi múa hát dâng bông, nhìn toàn cảnh trong điện thờ thật tuyệt vời. Hai hàng vũ nữ xinh đẹp, cứ tươi nguyên như mâm hoa trái trên đầu. Họ múa uyển chuyển, khi cong tay, lúc vòng chân, khi sát người trên mặt đất đưa duyên, mình lắc, lúc khoan, lúc nhặt theo điệu nhạc cuốn hút người xem.

Phần sau điệu múa nhạc tấu dồn dập, trên đầu người vũ nữ mâm tháp được đốt lên. Ánh lửa bập bùng trong tiếng hú, tiếng vỗ tay của mọi người chung quanh. Nhạc càng sôi động, nhịp phách gõ mạnh hơn, múa càng nhanh hơn. Lúc này đây ta mới thấy được tài nghệ của vũ nữ dân gian tuyệt diệu làm sao, khiến người xem như cũng hòa vào, nhập vào cái hồn của điệu múa.

Phần múa dâng hoa của lễ trả hiếu đến đây là hết. Riêng ở các vùng Vạn Ninh, Ninh Hòa, các nghệ nhân thường thêm phần múa siêu, rồi màn Tam thánh Tề- Huyền- Đô xuất hiện hát múa vỗ an chúng dân.

Đúng giờ linh (giờ Ngọ), Cô mặc y phục bình thường, mặt tô son điểm phấn xinh tươi. Cô ngồi vào giữa sân khấu nhỏ, trước tấm gương lớn. Hai người phục dịch Cô hai bên, người bên phải hầu y phục, người bên trái hầu nước uống, đồ cúng. Nước hoa thơm nức được vẫy đến mọi người, giờ ngồi đồng bắt đầu.

Cô mặc y phục lễ tế, ngồi theo tư thế ngồi thiền. Hay tay chấp phía trước, chân xếp tròn, tấm vải đỏ được phủ lên đầu. Gần 5  phút trôi qua, toàn thân Cô lắc đều, khi tấm vải đỏ được giở ra trông Cô như người khác lạ.

Người phục dịch đưa Cô mâm cau ở chánh điện với 3 cây nhang. Cô đỡ mâm cau trên tay, một tay cầm nhang vẫy đều quanh mâm, nhang được cắm lên, mâm cau như được thánh mẫu soi tỏ, và lại được đặt vào giữa điện.

Người phục dịch ghé tai Cô thì thầm, nội dung nhằm nhắc Cô có người xin lời khuyên về chuyện làm ăn, hay chuyện nhân tình thế thái, có khi xin thuốc chữa bệnh, Cô gật đầu như chấp nhận điều tâu! Thông thường thì Cô cứ ngồi đồng là múa bóng, hết “Thần” này lại đến “Thánh” khác nhập xác.

Sau lễ dâng cau, tấm vải đỏ lại được phủ lên, Cô ngồi đồng lắc mình đều đặn, nhạc tấu lên với giọng hát chầu văn lả lướt. Nội dung bài hát tả cảnh sông hồ, biển trời lai láng… cầu cho đất nước luôn thanh bình, dân no ấm, vua tôi thịnh trị vững bền.

Tấm vải đỏ được giở ra, người phục dịch bên phải mặc nhanh y phục cho Cô. Giờ đây trông Cô thật oai phong trong bộ y trang lộng lẫy. Tay tỳ lên chồng gối xếp, Cô dùng một ly rượu nhỏ trên điện thờ, con mắt và khuôn mặt Cô thật khác thường. Mọi người chung quanh nhìn nhau rồi ngồi nghiêm chỉnh. Tất cả cúi đầu vái lạy miệng lầm rầm: “Mẫu chúa Sơn Lâm!”.

Mẫu đi một vòng, mắt nhìn bao quát bốn phương, dáng vẻ oai phong lẫm liệt. Người phục dịch bên phải lại đưa cho Cô cặp song kiếm sáng loáng. Cô vái vào chánh điện, chắp kiếm, bất chợt Cô hú nhẹ một tiếng, xoay tròn một vòng rồi đứng tư thế đề kiếm. Bắt đầu cô múa, kiếm lướt nhanh loang loáng, nghe phựt… phựt!… Sức mạnh và tài năng nghệ nhân vượt sức  tưởng tượng đối với người xem. Đây là bài kiếm thuật, qua các thế đánh ta hiểu Cô múa kiếm không phải để khua cho vui. Nhạc đệm bài kiếm thuật vẫn là nhạc chầu văn, nhưng nhịp phách mạnh hơn, sử dụng bộ gõ nhiều hơn.

Thời gian múa kiếm kéo dài từ 7 đến 10 phút. Sau bài kiếm Cô ngồi xuống, tư thế cũng đường bệ như ban đầu. Như vậy “hồn Bà chưa rời khỏi xác cô”, Cô nói lời thánh. Ai xin điều gì Cô phán điều ấy. Lời Cô nói nhỏ, giọng rất lạ, vì đây là lúc “Mẫu nói”. Phần này gọi là lời dạy của Mẫu.

Người phục dịch đưa Cô mâm cau hoặc trái cây và đĩa tiền lễ (nếu có). Số tiền lễ được Cô xếp vào đĩa trả về cho nguyên chủ, chỉ giữ lại phần nhỏ, rồi Cô lại chia đều vào các đĩa trái cây, cau trầu, thuốc lá phân phát cho tất cả mọi người. Phần này gọi là phát lộc của mẫu. Người nhận lộc cung kính vái vào chánh điện, cất phần quà của mình. Lúc này trước mặt mọi người, Cô thực sự là Thánh Mẫu. Mẫu nhìn ai cũng hiền từ, sâu thẳm, cái nhìn chinh phục mọi người. Ai cũng cảm thấy Mẫu như hiểu mình, hiểu mọi ngõ ngách đời tư của mình, không giấu được. Không khí trong điện thật ấm cúng. Từ Thánh Mẫu đến mọi người đều nhai trầu, môi đỏ mặt hồng hưng phấn. Thời gian kéo dài khoảng 15 phút, “Mẫu thăng”, hoàn hồn lại xác cho Cô, Mẫu không nhập nữa.

Tiếp tục lại có người dâng lễ xin lời thánh, mọi nghi lễ lại diễn ra như trên: ngồi đồng > nhập xác > múa bóng > lời Thánh dạy > phát lộc Mẫu. Quá trình này được lập đi lập lại nhiều lần, có khi trên 20 lần, nghĩa là có đến 20 vị Thánh nhập vào xác Cô. Cô múa bóng 20 lần khác nhau theo địa vị, tánh nết của các vị Thánh.

Vừa rồi là Mẫu, bây giờ đến Cô. Cô ngồi đồng lắc mình nhè nhẹ, khăn đỏ được giở ra, người phục dịch hớn hở: “Cô Bẩy về!”. Cô cười đưa duyên với tất cả mọi người, Cô mặc áo dài  thướt tha, đầu giắt hoa, tai và tay đeo vòng lấp lánh, nước hoa lài xức thơm phức. Mắt Cô đưa tình, miệng cười xinh tươi. Người phục dịch đưa Cô hai sợi dây xoắn đốt cháy như nến, sáng rực. Cô kẹp vào hai ngón tay, dịu dàng vái vào chánh điện, Cô múa.

Sự hóa thân của nghệ nhân trong vai nữ trẻ tuổi mới tuyệt diệu làm sao. Từ nội tâm đến hình thức bên ngoài bộc lộ tính cách của thần cô ở tuổi độ trăng tròn, thông minh nhí nhảnh. Cô thướt tha trong bộ áo dài múa vờn theo ngọn lửa, ánh sáng bập bùng soi vào cặp mắt liếc ngang sống động. Cô múa khi lên cao, khi xuống thấp, đôi cánh tay mềm mại, toàn thân uốn mình như rắn trên nền nhạc chầu văn, lời thơ trữ tình tươi mát. Đôi chân Cô nhảy nhẹ, gót đánh đều trên sàn diễn theo nhịp phách của song loan, tiếng trống bốp bốp, tong tong, tong bốp… hòa vào tiếng đàn nguyệt, tiếng sáo trúc. Lời ca tả trời quang mây đãng, cành lê hoa điểm trắng, bướm vờn bay. Người phục dịch đóng vai trò quản ca thúc giục mọi người vỗ tay cùng hòa nhịp. Cô múa say sưa, cô cười thành tiếng, pha với lời hú nhè nhẹ phát ra thúc tiết tấu điệu múa dồn thêm.

Mọi người đồng thanh cổ vũ, vỗ tay đều nhịp, không khí trong điện thờ như hòa vui, nhất là với các vị thường xuyên đến hầu Mẫu, niềm vui thể hiện trên con mắt của họ như đang nói chuyện với thần cô vậy.

Nhạc chầu văn đoạn kết bao giờ cũng là lời cầu chúc cuộc sống yên lành. Hai sợi dây cháy cũng vừa ngắn, Cô trao cho người phục dịch, người phục dịch lại trao sợi dây đang cháy cho người đặt quẻ cầu Cô, nếu không thì cho người nào gần đấy. Người nhận lấy sợi dây đang cháy xông quanh mặt, quanh ngực, quanh người mỗi lần một vòng. Sau đó sợi dây được dập lửa, gói cẩn thận cầm về. Người ta quan niệm sợi dây cháy là của thần mẫu, soi quanh mặt như xua đi nỗi rủi ro, xuất u nhập minh, lo kế mưu sinh tính chi được nấy. Cô lại nói lời thánh, lại phát lộc như lần trước.

Nguyễn Man Nhiên & Nguyễn Tứ Hải

 Xem tiếp kỳ 3

Bài liên quan