QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

Bài liên quan

- Văn bia đình Mỹ Hiệp, Ninh Hòa - Đỗ Văn Khoái

- Đình Mỹ Hiệp ở TX Ninh Hòa (Video)

 

Bài cùng tác giả

- Câu nói : "Quân sử thần tử...Phụ sử tử vong..." là của Nho gia hay Pháp gia?

- Đôi điều tản mạn về nghi thức cúng đình - miếu ở vùng đất Diên Khánh - Khánh Hòa

- Đại Nam Thực Lục viết về cái chết của Trung thư Phụng chính Trần Văn kỷ

- Chiến thuật hạ thành Ngọc Hồi của quân Tây Sơn

- Vài nét về lịch sử, địa lý khu vực suối Hoa Lan Ninh Hòa

- Văn miếu Diên Khánh là văn miếu cấp tỉnh hay cấp huyện?

- Văn miếu Khánh Hòa

- Cụ Đỗ Thúc Tĩnh, một vị quan có tiếng - CẦN - CÁN - CÔNG - LIÊM, được vua, quan, dân tín nhiệm và ái mộ

- Chuyện liên quan đến các quan lại ở tỉnh Khánh Hòa vào những thập niên cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20

- Tên các tổng, xã, thôn, ấp, hộ của tỉnh Khánh Hòa thời vua Đồng Khánh

- Mả ông Tướng

- Kiến trúc thành Diên Khánh và cách trùng tu tôn tạo hiện nay

- Võ Tánh có được cải theo họ chúa Nguyễn không?

 

 

 

 

 

NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN

ĐÌNH MỸ HIỆP- NINH HÒA

Trước đây có nhiều bài viết ,viết về đình Mỹ Hiệp- Ninh Hòa, nhưng có đôi vấn đề chưa chính xác lắm, cần phải làm sáng tỏ để độc giả có cái nhìn đúng với lịch sử.

Niên đại thành lập đình Mỹ Hiệp.

Trong bài viết “Đình Mỹ Hiệp” của tác giả Vũ Ngọc Hải đăng trên trang web Trung tâm Bảo tồn Di tích tỉnh Khánh Hòa (www.ditichkhanhhoa.org.vn/index.php/di-tich-khanh-hoa/di-tich-c-p-t-nh/item/178-đình-mỹ-hiệp) thì đình Mỹ Hiệp được xây dựng vào tháng 7 năm Tân Mùi (1751). Không biết căn cứ vào đâu mà tác giả khẳng định năm Tân Mùi xây dựng đình Mỹ Hiệp ứng với năm dương lịch là 1751? Ngoài ra còn nhiều tác giả khác cũng “theo lời các cụ cao niên là đình Mỹ Hiệp được tạo dựng vào năm Tân Mùi”(1751).Trên thanh xà trong đình Mỹ Hiệp có khắc năm tạo dựng: “Tân Mùi niên, thất nguyệt, cát nhật tạo” (Tạo dựng vào ngày lành, tháng bảy năm Tân Mùi). Rất tiếc là khắc ghi năm Tân Mùi nhưng lại không có niên hiệu nên không thể khẳng định là năm Tân Mùi xây dựng đình Mỹ Hiệp ứng với năm dương lịch là năm nào. Từ khi chúa Nguyễn mở đất Khánh Hòa (1653) cho đến cuối thế kỷ XIX có các năm Tân Mùi ứng với dương lịch: 1691, 1751, 1811, 1871. Hiện tại ở đình Mỹ Hiệp còn một bức hoành có 5 đại tự bằng chữ Hán: MỸ THẠNH XÃ ĐÌNH TỰ với dòng lạc khoản:  “Tự Đức ,Quí Dậu, quí hạ cát nhật trùng tạo” (Trùng tu vào ngày lành tháng 6 năm Quí Dậu, niên hiệu Tự Đức). Xã Mỹ Hiệp lúc mới thành lập có tên là Toàn Thạnh, kế đến đổi thành Mỹ Thạnh, sau lại đổi là Mỹ Hiệp. Năm Quí Dậu, niên hiệu Tự Đức ứng với năm dương lịch là năm 1873.

Theo phương pháp loại suy thì đình Mỹ Hiệp không thể xây dựng vào năm Tân Mùi(1871) được. Chẳng lẽ đình xây dựng vào năm 1871 thì hai năm sau (1873) lại trùng tu! Năm 1653 chúa Nguyễn mở đất Khánh Hòa và người Việt vào định cư ở vùng đất Ninh Hòa tính đến năm Tân Mùi (1691) mới được 38 năm và khi ấy dân cư thưa thớt chưa thể xây dựng đình vào năm 1691 được. Như vậy còn lại hai năm Tân Mùi (1751 và 1811) và đình Mỹ Hiệp “có thể” xây dựng vào năm Tân Mùi (1811) và cũng có thể xây dựng vào năm Tân Mùi (1751). Nhưng hiện nay không có tư liệu thành văn nào khẳng định năm xây dựng đình Mỹ Hiệp là Tân Mùi (1751) hoặc Tân Mùi (1811) cả! Nơi thanh xà trong đình chỉ ghi “Tân Mùi niên,thất nguyệt,cát nhật tạo”

Theo các tài liệu trong làng thì từ khi khởi dựng đến nay, đình Mỹ Hiệp đã trải qua 6 lần trùng tu vào các năm : 1873, 1931, 1953,1966,1991,2009. Khoảng cách giữa lần trùng tu thứ nhất (1873) đến lần trùng tu lần thứ hai (1931) là 58 năm mà đình Mỹ Hiệp đã “ngõa toái viên đồi” (ngói vỡ tường lở - bia Mỹ Hiệp xã đình chí).Theo lời kể của các cụ cao niên đình Mỹ Hiệp xây dựng năm Tân Mùi (1751), vậy thì từ khi xây dựng đình cho đến lần trùng tu thứ nhất vào năm 1873 là 122 năm.  Thời gian 122 năm mới trùng tu thì không thể chấp nhận được!  Văn miếu Khánh Hòa xây dựng năm Gia Long thứ 2 (1803)hoặc miếu Hội đồng Khánh Hòa xây dựng năm Gia Long thứ 15(1816) tại xã Phú Lộc chưa đến 50 năm mà đã được trùng tu vào năm 1849 (1). Theo tác phẩm Hoàng việt nhất thống dư địa chí của Lê Quang Định soạn xong năm 1806 không thấy ghi chép khu vực xã Toàn Thạnh (nay là Mỹ Hiệp) có đình ,chỉ thấy ghi chép chùa và miếu mà thôi! Vậy theo tôi, đình Mỹ Hiệp “có thể” xây dựng vào năm Tân Mùi (1811).

Niên đại xây dựng đình Mỹ Hiệp còn bỏ ngõ, chờ phát hiện thêm tư liệu, không nên khẳng định đình Mỹ Hiệp xây dựng vào năm 1751.

Chữ “THẦN” ở đình Mỹ Hiệp

Trong tác phẩm “Xứ Trầm hương”, Quách Tấn có kể về lai lịch chữ “Thần” do Tú tài Nguyễn Khanh, người làng Võ Cạnh viết bằng chữ Hán ở vách tẩm của đình Mỹ Hiệp: “Vào khoảng cuối đời Tự Đức, làng Mỹ Hiệp (Ninh Hòa) trùng tu xong ngôi đình làng, mời ông ra viết giùm chữ “Thần” (bằng Hán tự) nơi vách tẩm để thờ… Và chữ “Thần” trông oai nghi và linh động như chữ đã hóa thần” (2).

Với thông tin trên cho nên các tác giả sau Quách Tấn cứ lầm tưởng chữ “Thần” hiện nay ở đình Mỹ Hiệp là của cụ Tú Nguyễn Khanh viết. Tác giả Vũ Ngọc Hải  viết: “Ngoài ra tại chính điện tương truyền còn có chữ “Thần” do cụ Nguyễn Khanh viết tặng đình năm 1873”. Tác giả Trần Thị Thanh Loan- cán bộ Trung tâm Bảo tồn Di tích tỉnh Khánh Hòa- viết: “Cũng theo tương truyền của các cụ bô lão trong làng thì vách hậu của ngôi Chính điện có viết một chữ “Thần” (chiều ngang 69cm, chiều đứng 71cm, chiều dày 3cm) do cụ Nguyễn Khanh người làng Võ Cạnh (xã Vĩnh Trung- thành phố Nha Trang) viết vào năm 1873” (3).

Nếu như cụ Tú Nguyễn Khanh có viết chữ “Thần” ở đình Mỹ Hiệp, thì chữ “Thần” ấy nay đã hòa quyện trong lòng đất rồi chứ đâu còn nữa! Đình Mỹ Thạnh (sau đổi thành Mỹ Hiệp) được trùng tu năm 1873 và khi ấy ngôi đình này hướng về phía tây nơi có thủy đạo (đường nước chảy). Theo “ Mỹ Hiệp xã đình chí’’ (Bài kí đình xã Mỹ Hiệp ) ghi hiện trạng đình Mỹ Hiệp trước  năm 1930 : “ngô xã đình miếu tòng tiền phân vi lưỡng cục…Nãi vãn cận phong tràng vũ hám, ngõa toái viên đồi, mỗi ư kinh quá hạ bái thời kỷ hữu cổ thụ hàn nha chi khái” (Đình miếu xã ta từ trước chia làm hai khối…Xem thời gian gần đây, gió mưa hủy hoại đã khiến ngói vỡ tường lở, mỗi khi qua đó cúng kính, cảm thấy bùi ngùi tựa cây già vắng bóng chim qua). Như vậy trước năm 1930 đình một nơi , miếu một nẻo và nhân dịp đình xuống cấp, lại được các cấp chính quyền “thùy tình chiếu cố, chỉ thị đồ thức, hợp thành nhất cục, phân sức trùng tân hoán như dã” (rủ lòng chiếu cố, chỉ bày cho mô hình hợp lại thành một khối, tô điểm trùng tu rực rỡ như thế”. Như vậy trước đây đình miếu “phân vi lưỡng cục” và được phá bỏ để “ hợp thành nhất cục” thì chữ “Thần” tương truyền do cụ Tú Nguyễn Khanh viết khi trùng tu đình vào năm 1873 làm gì còn tồn tại tới nay!

Theo tác giả Vũ Ngọc Hải : “năm 1873  (mùa hạ năm Quí Dậu) xoay hướng của đình từ hướng tây sang hướng đông nam” và “ngày 21/12/1931 (ngày 13/11 năm Tân Mùi, nhằm triều vua Bảo Đại năm thứ 6): xây tường bao quanh bằng vật liệu mới để tăng khả năng chịu lực và bao che”. Tác giả cho rằng đình xoay hướng như hiện nay là vào năm 1873, năm 1931 chỉ “xây tường bao quanh bằng vật liệu mới” mà thôi!

Tác giả Trần Thị Thanh Loan cho rằng : “Đến năm 1885 thì di dời ngôi đình lên vị trí hiện nay, kết cấu khung gỗ của ngôi đình cũ vẫn còn tương đối nguyên vẹn” (4). Năm 1885 phong trào Cần vương nổi lên chống thực dân Pháp xâm lược rầm rộ thì làm sao mà di dời đình!

Vào những thập niên đầu của thế kỷ XX, thực dân Pháp mở Quốc lộ 21 (nay là 26) từ Ninh Hòa đi Daklak, thời điểm ấy đình và miếu của xã Mỹ Hiệp “phân vi lưỡng cục” và đình xoay về hướng tây nơi có thủy đạo. Lúc ấy đình Mỹ Hiệp đang trong tình trạng “ngói vỡ, tường lở ”nên nhân tiện đó phá bỏ đình và miếu cũ để “hợp thành nhất cục” xoay hướng ra Quốc lộ.

Nội dung tấm bia “Mỹ Hiệp xã đình chí”

Sự kiện đình- miếu xã Mỹ Hiệp “hợp thành nhất cục” được khắc vào bia đá năm Bảo Đại lục niên, thập nhất nguyệt, thập tam nhật (dương lịch 11/12/1931). Bia đá “Mỹ Hiệp xã đình chí” bằng chữ Hán được xây dính vào mặt trước án phong của đình Mỹ Hiệp (du khách đi trên Quốc lộ 21, nay đổi là Quốc lộ 26 nhìn thấy rõ tấm bia đá này)

Đợt trùng tu án phong vào tháng 4 năm Ất Dậu (2005), Ban Quản lí đình Mỹ Hiệp cho khắc vào đá bản “dịch nghĩa” bia đá  “Mỹ Hiệp xã đình chí” ra chữ Quốc ngữ và gắn vào mặt trong của án phong. Đây là một sự cố gắng của Ban Quản lí đình đáng tuyên dương. Nhưng trong bản dịch nghĩa còn quá nhiều sai sót. Như đoạn: “Phụng ngã bổn tòa quí‎ Công sứ đường Dịch Khai Hoa, nhị đại nhân, ngã bổn tỉnh Phủ viện đường Nguyễn đại nhân, ngã Niết đường Đinh đại nhân, niệm trọng dân, phủ tòng dân nguyện, chuẩn dĩ trích thủ hương ngân tịnh thính quyên cúng đắc ngân số cự, hiện trù tu chỉnh. Thích mông ngã Phủ đường Võ đại nhân lai lỵ tư thổ” (…Khiến nên đại quan công sứ NGUYỄN TRIỀU đã nhã í thuận lòng dân, cho phép truất công quỹ của làng và tiến hành quyên góp chuẩn bị tu sửa. Hợp cùng với Phủ đường, huyện đường nhị vị Đinh đại nhân và Võ đại nhân đồng tình chiếu cố”

Bài “Mỹ Hiệp xã đình chí” được anh Đỗ Văn Khoái- cán bộ Trung tâm Bảo tồn di tích tỉnh Khánh Hòa – dịch nghĩa và đăng trên trang web ninhhoatoday.net kỳ 85- Tháng 12/2014. Đoạn văn trên được anh Khoái dịch: “Vâng theo bổn tòa quí Công sứ đường là ngài Dịch Khai Hoa và hai vị đại nhân của ta là vị đại nhân họ Nguyễn, giữ chức Phủ viện đường bổn tỉnh và đại nhân họ Đinh ở huyện đường, nghĩ đến chỗ dân nương tựa, xét theo í nguyện của dân, chuẩn cho việc trích tiền công quỹ ở nơi xóm làng cùng với số tiền quyên góp, được một số lớn, trù tính tu sửa. Lại đến nhờ vị đại nhân họ Võ nơi phủ đường đến xem xét đất này” .

Trong bia “Mỹ hiệp xã đình chí” có 4 nhân vật được nêu ra. Đó là Công sứ đường Dịch Khai Hoa; Phủ viện đường Nguyễn đại nhân; Niết đường Đinh đại nhân và Phủ đường Võ đại nhân.

Do không rành về lịch sử hành chánh thời Pháp thuộc, nên anh Khoái dịch chưa chuẩn đoạn văn này. Vào giai đoạn 1931 bộ máy hành chánh cai trị tỉnh Khánh Hòa đứng đầu gồm có: Bên thực dân Pháp có tòa Công sứ. Người đứng đầu là quan Công sứ. Bên Nam triều đứng đầu là quan Tuần phủ (chữ “phủ” trong “Tuần phủ” hoặc “Phủ viện đường”  thuộc bộ “thủ” 13 nét. Ta quen gọi là Tuần vũ). “Phủ viện đường” là dinh quan Tuần phủ. Dưới quan Tuần phủ là quan Án sát coi về tòa án. Cơ quan coi việc tòa án ở tỉnh gọi là Ty Niết hoặc là Ty Án sát. Dinh quan Án sát gọi là Niết đường. Dưới cấp tỉnh là cấp phủ. Đứng đầu cấp phủ là quan Tri phủ (chữ “phủ” trong Tri phủ thuộc bộ “nghiễm” 5 nét). Nơi quan Tri phủ làm việc gọi là Phủ đường.

Theo Annuaire Administratif de l’Indochine - Province de Khanh Hoa 1931 (Niên giám hành chánh Đông Dương- Tỉnh Khánh Hòa năm 1931), quan Công sứ Khánh Hòa là Albert Gey, Phó Công sứ là Jean Brissaud. Tuần phủ Khánh Hòa là Nguyễn Văn  Hoành, Án sát Khánh Hòa là Đinh Văn Chấp, Lãnh binh Khánh Hòa là Đặng Văn Sâm (5).

Như vậy tên Dịch Khai Hoa là tên phiên âm sang Hán Việt của tên quan Công sứ Albert Gey. Đoạn dịch “Đinh đại nhân ở huyện đường” là dịch chưa đúng, phải dịch là “Đinh đại nhân ở Niết đường” (Đinh đại nhân ở ty Án sát).

Tri phủ phủ Ninh Hòa họ Võ vào thời điểm 1930-1931 hiện chưa xác định được danh tánh. Trong “nhị vị đại nhân” Nguyễn và Đinh, tôi chỉ mới tìm được tiểu sử của quan Án sát Khánh Hòa Đinh Văn Chấp  mà thôi. Cụ Đinh Văn Chấp sinh năm 1893 người xã Kim Khê, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Đậu cử nhân khoa Nhâm Tí (1912) tại trường thi Thừa Thiên, vị thứ 3/32. Đậu Hoàng giáp khoa Quí sửu (1913) (6). Cụ là thân phụ của Hòa thượng Thích Minh Châu (thế danh Đinh Văn Nam).

Với đoạn văn: “Tuy viết dân lực vi chi, thần quyến bằng chi”  trong bản “Dịch nghĩa” ở đình Mỹ Hiệp dịch: “Dễ vạn lần không dân cũng chịu/ Khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Lạ thay! hai câu thơ trong bài thơ “Dân no thì lính cũng no” của nhà thơ Thanh Tịnh sáng tác năm 1948 lại xuất hiện trong bản “dịch nghĩa” như vậy?

Câu này được anh Đỗ Văn Khoái dịch: “Dẫu nói rằng đó là do sức dân làm nên, lại được thánh thần phò giúp”

Tả nghi –  Hữu hữu

Ở miếu Cây Ké (nay thuộc tổ dân phố Phú Lộc Tây II, thị trấn Diên Khánh), khi sửa lai cổng miếu, anh Võ Nhân cho đôi câu đối chữ Hán đắp ở mặt ngoài hai cột giữa của cổng miếu:

Xuất nhập hanh thông, thượng mục hạ hòa cao phẩm cách.

Vãng lai địch cát, tả nghi hữu hữu đại thanh danh.

Trong vế đối sau có hai chữ “hữu hữu”, chữ “hữu” trước nghĩa là bên phải, giúp; chữ “hữu” sau nghĩa là có, đầy đủ. Có người đi ngang qua thấy vế đối có hai chữ “hữu hữu” đứng kề nhau, cho là tác giả câu đối còn non kém! Nhưng sự thực câu đối ấy rất chỉnh.

Trên cổng phụ phía tả của cổng đình Mỹ Hiệp (cổng phụ bên tay phải từ ngoài nhìn vào) có hai chữ Hán : “TẢ NGHI” và trên cổng phụ phía hữu của cổng đình Mỹ Hiệp có hai chữ hán “HỮU HỮU”. Nhiều khách qua đường đọc được bốn chữ Hán ấy nhưng khi hỏi nghĩa của bốn chữ ấy thì đại đa số không thể giải thích được

Bốn chữ “Tả nghi” “Hữu hữu” được xem như là điển tích. Nó được trích ra từ bốn câu thơ đầu trong chương IV ở thiên Thường thường giả hoa , trong Kinh Thi: “ Tả chi, tả chi/ Quân tử nghi chi/ Hữu chi, hữu chi/Quân tử hữu chi”. Hai câu cuối của bài thơ này : “Duy kỳ hữu chi/ Thị dĩ tự chi”. Bài thơ được dịch thơ chữ quốc ngữ: “Phụ tá vua ra công cố gắng/ Chư hầu đều đứng đắn vô cùng/Giúp thiên tử lại ra công/ Chư hầu đầy đủ tài năng xiết bao!/ Vì vốn đã dồi dào có sẳn/ Nên hành vi giống bản năng thay?”. Chu Hy chú giải: “Nói chư hầu, tài năng thì hoàn toàn, đức hạnh thì đầy đủ. Phụ tá thiên tử thì chư hầu không có việc gì là không nên. giúp đỡ thiên tử thì chư hầu không có điều gì là không có. Vì tài năng đã có sẳn, cho nên mới lộ ra ở ngoài, không có điều gì là không giống in như bản năng đã sẳn có” (7)

Hiện nay những tư liệu liên quan đến đình Mỹ Hiệp có thể còn nằm rải rác đâu đó trong các gia đình ở xã Mỹ Hiệp (nay là phường Ninh Hiệp), cho nên để có một lịch sử  chính xác về đình Mỹ Hiệp cần phải có thêm thời gian sưu tầm và nghiên cứu.

Nguyễn Văn Nghệ

Tổ dân phố Phú Lộc Tây I, Thị trấn Diên Khánh – Khánh Hòa

Chú thích:

1 - Đại Nam nhất thống chí quyển 10&11 Tỉnh Phú Yên & Khánh Hòa, Nxb Nha Văn hóa- Bộ Văn hóa Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa, 1964, trang 95.

2 - Quách Tấn, Xứ trầm Hương, Nxb Hội Văn học Nghệ thuật Khánh Hòa, trang 417.

3,4 - Trung tâm Bảo tồn Di tích Khánh Hòa, Đình làng Khánh Hòa, Nxb Văn hóa- Thông tin, trg 246; 245.

5 - Annuaire Admitratif de l’Indochine 1931, Province de Khanh Hoa, page 379-381, Hanoi Imprimerie d’Extrême- Orient MCMXXXI (Niên giám hành chánh Đông dương năm 1932. Tỉnh Khánh Hòa)

6 - Cao Xuân Dục, Quốc triều hương khoa lục, Nxb TPHCM, trg 630.

7 - Khổng tử, Kinh Thi (Tạ Quang Phát dịch), Nxb Văn học, trg 384-385.