QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

 

 

 

Tục thờ Mẫu và nghi lễ ngồi đồng - múa Bóng ở Khánh Hoà

Nguyễn Man Nhiên & Nguyễn Tứ Hải

Kỳ 3

 

5. Mấy nhận xét ban đầu về bản chất của việc ngồi đồng - múa bóng:

5.1 Ngồi đồng:

Ngồi đồng như việc tĩnh tâm, thiền định, để phần Thần nhập xác Cô. Các nghệ nhân trong giới “đồng bóng” đều cho rằng ngồi đồng là sự vận động, điều khiển thần kinh, làm chuyển hướng hoạt động của con người từ trạng thái này sang trạng thái khác. Ngồi đồng là tập trung hệ thần kinh, du người sang thế giới khác, thoát tục, cảm nhận  trong não bộ hình ảnh, tiếng nói, cả thế giới sống động của các Thánh Mẫu, các Cô, các Cậu, các vua và cả quần thần… Ngồi đồng là giai đoạn “thần linh nhập xác Cô”. Vì là đa thần nên quá trình ngồi đồng cũng rất đa dạng. Sự độc đáo nằm ở chỗ người ngồi đồng trong cùng một giá đồng lần lượt vào nhiều vai khác nhau.

Khi ngồi đồng cũng có nhiều kẻ lợi dụng lòng tin, làm điều bậy bạ, miệng hú, hét, nhảy dựng lên rồi dẫy đành đạch như "đỉa phải vôi", đây là hành động thái quá, hù dọa. Chúng tôi có hỏi một số nghệ nhân về hiện tượng trên, họ trả lời đây là hành vi của những kẻ làm tiền, không phải là người của Mẫu! Họ cũng cho rằng thời nào cũng vậy, đều có kẻ “mua thần, bán thánh”.

Ngồi đồng chỉ có ý nghĩa nếu người ngồi đồng thật sự đạt tới trạng thái “yoga tinh thần” một cách cao siêu. Khi đó họ sẽ quên hết thực tại và bắt đầu tiếp cận được những bồng bềnh ảo ảnh thực hư, ẩn chứa trong tâm hồn và tư duy con người. Nếu không có điều ấy thì ngồi đồng chỉ là một hình thức diễn xướng đơn thuần mà thôi.

5.2 Múa bóng:

Múa bóng là phần tiếp theo sau ngồi đồng. Múa bóng thể hiện tài năng, bản lĩnh của Cô khi hòa mình vào thế giới thần linh.

Tuy nghệ nhân hát, múa có bài bản, hành động thể hiện như có chủ định, song tâm sinh lý lại không ở trạng thái bình thường. Trạng thái không bình thường của Cô biểu hiện ở nhiều mặt: như hàng ngày nghệ nhân không biết uống rượu bia, không hút thuốc, không ăn trầu, vậy mà khi ngồi đồng múa bóng lại dùng được tất! Các nghệ nhân lý giải rằng đó là thánh hút thuốc, ăn trầu, thánh dùng bia rượu.

Tài năng của các nghệ nhân thể hiện ở chỗ múa đẹp, sinh động và được nhiều Thần nhập xác. Có lúc ta thấy Cô oai phong tay cầm kiếm lệnh, ra dáng  mẫu nghi thiên hạ. Có lúc ta lại thấy Cô với dáng vẻ xinh tươi của tuổi 18 đôi mươi, miệng cười - hú - hát. Được xem nghệ nhân tuổi còn sung sức múa bóng cảnh Cô Năm chơi hoa mới đẹp làm sao! Miệng cô ngậm một cành bông cúc, sau lại chồng tiếp lên một cành nữa là hai, rồi chồng tiếp một cành nữa là ba... trong tiếng hò reo, vỗ tay kích động của mọi người. Còn cảnh Cậu Út nhập xác mới thật vui. “Cậu Út quậy lắm”, ai cũng nói vậy! Nhìn kìa, Cậu Út đi vài thế thái cực quyền, rồi cậu đến bên dàn nhạc cầm cái trống bản, trống lăn tròn trên vòng tay phía trước, trống lăn như trái bóng qua cổ, đến vai được hất lên đầu và quay tít. Trống nhảy múa trên đầu cứ như diễn viên làm xiếc.

Ở hai huyện Vạn Ninh và Ninh Hoà, sau phần tế Mẫu có làm lễ tôn vương (phần kết của tế). Thường có ba nhân vật xuất hiện, đó là Tam Thánh Tề - Huyền - Đô. Trong thế giới tâm linh của dân gian, Tam Thánh xuất hiện là để trấn an đời sống cõi trần, ngăn quỹ dữ quậy phá. Vùng này thường có nghi lễ Tá thổ, diễn trò “Phạt xà, trảm mộc” đậm chất phù thủy. Trò diễn được thể hiện bởi các nghệ nhân dân gian đầy tài nghệ, phần lớn trong số các nghệ nhân ấy là những thầy pháp cao tay ấn như thầy Năm Hiển, thầy Bốn Tá, thầy Hai Chẻ, thầy Dư ở xã Vạn Thắng, thầy Ba Chưởng ở Tu Bông, thầy Lê Huấn ở Vạn Hưng… Sau này có thầy Sỹ Hùng, Lê Bộc, Bùi Mãng, tất cả đều ở huyện Vạn Ninh tỉnh Khánh Hòa.

Trong trò diễn ấy, Tam thánh đã diệt Mang Vưu Lang, Mang Vưu Hổ, phạt ngũ phương yêu mộc, diệt quỷ dữ Hỏa Linh, đưa Thần Nông về chăm lo ruộng nương. Bấy giờ mới “Trấn giữ được ngũ hành, càn khôn không chuyển, Thượng - trung - hạ, ngũ sắc huy hoàng, phân bốn mùa tám tiết”.

Múa bóng nơi đây thường thấy Tề Thiên xuất hiện. Động tác ngoại hình của các nghệ nhân khi thể hiện vai khỉ rất đẹp. Ngoài ra, nghệ nhân lại đọc thơ. Thơ chủ yếu theo thể biền ngẫu, ứng khẩu nhanh, nội dung nói về việc đối nhân xử thế ở đời. Lại có những nghệ nhân viết chữ Hán bằng bút lông khá đẹp.

Ở huyện Diên Khánh, ngồi đồng múa bóng gắn bó với hệ thống thờ Mẫu Thiên Y A Na. Ngoài các trò hát múa dâng hoa đăng, nếu nghệ nhân đông, có khi ngồi đồng múa bóng tập thể, nhiều cảnh xem khá rùng rợn.

Tại Nha Trang, nhiều nghệ nhân có tiếng như cô Đốc Như ở phường Vạn Thắng, cô Năm đường 2 tháng 4, cô Kiến An đường Sinh Trung, cô Ba Kẹp ở Xóm Bóng. Gia đình nghệ sĩ Lê Tấn ở Phương Sơn giỏi các loại nhạc cụ phục vụ nhạc chầu văn.

Nét nổi bật của văn hóa Khánh Hòa là sự đan xen văn hóa Việt - Chăm. Trong tâm linh cộng đồng cư dân, Mẹ Chăm như Mẹ Việt, thờ tự rất chu đáo. Xưa kia, ở tháp Pô Nagar nghi thức hát dâng hoa đăng ngồi đồng múa bóng phát triển mạnh. Chuyện xưa kể lại rằng, khi dân Việt vào ở dải đất ven biển đối diện tháp Pô Nagar, họ đặt tên vùng đất này là Xóm Cồn. Trước có mấy dãy nhà ngang để khách thập phương hành hương đất thánh, vừa là chỗ nghỉ, vừa là nơi các đoàn vũ công tập trung chuẩn bị cho ngày vía Mẫu. Từ chân tháp trở lên là Thánh địa. Các đội múa chỉ được đến các chân trụ lớn của phía trước tháp múa hát, còn các vũ công tài ba, với các vũ khúc truyền thống dành riêng cho phần đại lễ mới được đến cửa chánh điện biểu diễn. Ngày vía Mẫu các bậc đại sư của nghề mới được đến gần. Về sau, khi người Việt đã tiếp thu, ngoài các nghi lễ Tế Mẫu đã định, các nghệ nhân múa bóng nhiều nơi đổ về đây đua tài. Họ có đến chân Tháp, xong chủ yếu chỉ tổ chức ở mấy dãy nhà ngang này, cũng hát dâng bông, nhạc chầu văn ngồi đồng múa bóng. Họ đồn đại Thánh Mẫu linh thiêng, nên không chỉ ngồi đồng múa bóng ngày vía 23 - 3, mà cả ngày mồng một, ngày rằm hàng tháng, có nhiều người tham dự. Chính vì thế Xóm Cồn được gọi là Xóm Bóng, mặc dù dân ở đây không ai làm nghề múa bóng. Cây cầu bắc ngang qua khúc sông Cái nơi Xóm Bóng này cũng gọi là Cầu Xóm Bóng.

Ở các điện thờ hay các tụ điểm múa bóng, ta thường bắt gặp nhân vật Quan Công, bên cạnh có Quan Bình, Châu Xương ứng hầu. Quan Công là nhân vật chính trong tiểu thuyết “Tam quốc chí” của Trung Quốc. Nghệ nhân dân gian đã lược trích những đoạn hấp dẫn trong tiểu thuyết này chế tác thành các vở tuồng để diễn trong phần đại lễ tế đình hoặc tế Ông Nam Hải trong lễ cầu ngư, gọi là tuồng Ông. Lễ hội cầu ngư phát triển mạnh ở Trung và Nam bộ, đặc biệt ở Khánh Hòa. Quan Công (Quan Ngài) được dân thờ tự vì nghĩa khí trung can sáng như vầng nhật nguyệt. Tinh thần Nho giáo được đề cao trong Tam giáo đồng hành khu vực. Điều lớn hơn nữa, Quan Công xuất hiện như để trấn an lòng người. Với tài thao lược, diệt ác trừ gian nịnh, đem lại thịnh trị thái bình cho đất nước. Trung can sẽ chiến thắng mọi kẻ thù. Kết cấu “có hậu” thường thấy ở vở diễn của tuồng. Đây cũng là những điều mong ước, khao khát của nhân dân. Chính tư tưởng văn hóa dân gian ở các lễ hội đình làng đã ảnh hưởng rất lớn, làm thay đổi diện mạo văn hóa đậm tính tôn giáo như tục tế mẫu ngồi đồng múa bóng .

Sức sống của trò diễn múa Bóng trước hết gắn với tục thờ Mẫu lâu đời ở Việt Nam, sau đó nó mang theo mình cả mảng văn hóa dân gian đặc sắc. Đó là hệ thống bài bản hát chầu văn với những giai điệu trữ tình độc đáo. Tuy là hệ thống bài bản, nhưng nhạc làm nền cho lời, lời không bì nhạc mà phải bẻ câu bẻ chữ. Bằng cách luyến láy theo chữ, nghệ nhân mặc sức mà thả hồn thể hiện tình cảm của mình.

Điệu nhạc phú dành cho Mẫu, các ông hoàng, các quan lớn. Phú có Phú trung, Phú hạ, Phú mùi. Phú mùi  dành cho các Cô đi dạo chơi.

Điệu nhạc xá dành cho các Cô, các Cậu và cho lúc nhảy múa. Xá có xá thượng là mạnh thêm lên, xá pha quảng là vui tăng lên, gọi là xá quảng.

Điệu nhạc quảng dành chủ yếu cho các quan, đặc biệt lúc ngồi phát lộc người ta sử dụng điệu quảng. Điệu nhạc phú, xá, quảng… là những điệu nhạc cơ bản mà các nghệ nhân ở Khánh Hòa hiện nay hay sử dụng trong trò diễn múa bóng. Ngoài các nghệ nhân Khánh Hòa làm ca công, còn có các nghệ nhân ở Huế, Sài Gòn - Gia Định cũng thường xuyên đồng tham gia biểu diễn vào các ngày vía lớn. Tại đây ta sẽ bắt gặp giọng hát chầu văn ở miền Bắc với giai điệu mang các tố chất của dân ca đồng bằng Bắc bộ mà ở Chèo sử dụng rất nhiều. Đến các nghệ nhân Huế, vẫn  tổ hợp ca khúc ấy, song ta lại được nghe giọng hát ngọt ngào, uyển chuyển của điệu hò vùng sông Hương núi Ngự. Nổi bật hơn cả vẫn là các nghệ nhân vùng Nam Trung bộ, ngoài các nét nhạc trữ tình man mác đặc trưng dân ca miền Trung, ta còn nghe yếu tố bi hùng, ai mà không lụy của sân khấu Tuồng. Bởi nghệ thuật hát Tuồng có sự ảnh hưởng lớn đối với toàn bộ văn hóa cộng đồng ở khu vực. Và cũng chính nhiều nghệ sĩ Tuồng trực tiếp đờn ca sáo thổi cho trò diễn múa Bóng này. Cuối cùng là các nghệ sĩ đất Sài Gòn - Gia Định. Họ đờn ca chầu văn hay múa bóng rất giỏi, gần như xiếc. Nét âm nhạc chầu văn của họ chủ yếu vẫn là nhạc chầu Bắc, đôi bài ta như bắt gặp nét nhạc tài tử thính phòng mang hơi ấm của dân ca Nam bộ, mênh mang mênh mang như cánh cò chở nắng sang sông Tiền, sông Hậu.

Tóm lại, về âm nhạc, mặc dù giai điệu chủ đạo vẫn là hát chầu văn tế mẫu từ Bắc vào, xong đến đây nỗi niềm âm nhạc ấy lại được điểm tô thêm làm cho phong phú hơn, sinh động hơn.

Hiện nay, múa bóng ở Khánh Hòa tồn tại theo hai phái: phái “Tứ phủ công đồng” và phái “Tam phủ”. Cả hai phái giống nhau ở chỗ là đều thờ Mẫu, ở  nghi thức tế Mẫu, hát chầu văn, múa dâng hoa đăng và có sự nhập xác. Điểm khác cơ bản giữa hai phái là: “Tứ phủ công đồng” quan niệm 4 cõi, bao gồm: Thiên phủ (miền trời): có Mẫu đệ nhất (mẫu Thượng Thiên) cai quản bầu trời, làm chủ các quyền năng mây mưa, gió bão, sấm chớp; Nhạc phủ (miền rừng núi): có Mẫu đệ nhị (mẫu Thượng Ngàn) trông coi miền rừng núi, ban phát của cải cho chúng sinh; Thuỷ phủ (miền sông nước): Mẫu đệ tam (mẫu Thoải) trị vì các miền sông nước, giúp ích cho nghề trồng lúa nước và ngư nghiệp; Địa phủ (miền đất): Mẫu đệ tứ (mẫu Địa Phủ) quản lí vùng đất đai, là nguồn gốc cho mọi sự sống. Thánh Mẫu Thiên Y A Na được nhập vào hệ thống tứ phủ và thờ làm Mẫu Thiên. Phái này quan niệm “âm phủ dương gian đồng nhất lý” (hai thế giới giống nhau), thần linh nhập xác Cô, mỗi lần nhập là một lần Cô mặc một bộ đồ (mượn diện tiên). Trong hệ thống Mẫu của phái “Tam phủ” (hay còn gọi là tam cõi hội đồng thiên tiên, thượng - trung - hạ) chỉ có ba vị Mẫu nhất, nhị, và tam, không có  Mẫu đệ tứ. Phái này không ngồi đồng, chỉ đứng trụ, Mẫu nhập xác về một lần, nói lời khuyên giải, nói bài cơ pháp, tuyên truyền để người ta tu thân, làm các việc từ thiện v.v… rồi “thăng” luôn, chứ không nhập xác vô ra như phái “Tứ phủ”. Mặt khác, Mẫu Tam phủ có nhập xác, xong không múa Bóng, Mẫu nhập rồi ngồi xen với các con của mình múa hát dâng hoa đăng, trái cây và các vật cúng tế, Mẫu phát lộc, Mẫu cho người bệnh "thuốc  gia truyền" chữa bá bệnh.

6. Tổng kết:

Có thể nói Ngồi đồng - múa Bóng trong đầy đủ ý nghĩa của nó không chỉ là một trò diễn đơn thuần mà còn là một hiện tượng văn hóa tâm linh, trong đó hệ tư tưởng tôn giáo thần bí chi phối toàn bộ tuyến hành động của nghi thức ngồi đồng - múa bóng. Tư tưởng này khẳng định rằng con người có khả năng giao cảm do sự sáng suốt đột nhiên trong tâm trí, đưa ta đến cái Chân Thiện Mỹ trong thế giới siêu nhiên. Muốn được vậy, con người phải tĩnh tâm. Tĩnh tâm để du ta sang trạng thái siêu thoát hoàn toàn, ở đó con người được sống trong thế giới thần tiên, cũng sinh động như thực tại xã hội ta đang sống. Từ lý thuyết đến thực tế, xưa nay các nghệ nhân đều cố gắng dùng nghệ thuật nhằm truyền đạt, lý giải mục tiêu ấy cho mọi người. Điểm xuất phát của giáo lý, của trò diễn bắt đầu từ tục thờ Mẫu lâu đời của người Việt. Hình tượng Mẹ trong truyền thuyết dân gian vừa nhân từ tình cảm, vừa có quyền uy tối thượng, như thể hiện sự nhận thức của con người về thế giới vạn vật và lòng khát khao vươn tới chế ngự mọi sức mạnh thần bí trong thiên nhiên. Từ những điều này mà các nhà tôn giáo thần bí đã dựa hẳn vào đời sống tâm linh dân gian để duy trì giáo lý của mình.

Hệ tư tưởng giáo lý của tập tục này là khuyên mọi người làm việc thiện, con người sống với con người phải có lòng từ bi bác ái, thần linh ở mọi nơi luôn cứu giúp người lành. Tư tưởng này nghiêng nhiều về đạo Phật. Tuy đây là giáo lý của các nhà thần bí, nhưng mang đậm tính dân gian. Ngoài tam giáo đồng hành là Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo, còn gặp nét riêng là thế giới đa thần. Tất cả các thần có công cứu nhân độ thế đều được thờ tự và nhập xác múa bóng. Các vị thần ở đây mang tính bản địa, không thấy các vị Thánh Tây phương trong các giáo phái Thiên Chúa giáo xuất hiện.

Về mặt cơ bản, trò diễn múa Bóng vẫn giữ được nét truyền thống xưa, các nghệ nhân luôn trung thành với tư tưởng giáo lý của mình, tận tâm và hướng thiện. Các thế hệ nghệ nhân nối tiếp nhau giữ gìn và bồi đắp thêm cái hay cái đẹp trong lời ca, điệu múa. Tuy nhiên, hiện nay do sự truyền nghề vừa ít về số lượng, vừa “tam sao thất bản” về chất lượng, nên lớp nghệ nhân sau này không giỏi bằng các lớp người đi trước. Hơn nữa vì hoàn cảnh xã hội, vì sự nhận thức của con người ngày một khoa học hơn đã tác động không nhỏ vào trò diễn. Mặt khác, tính thực dụng đã làm biến thiên ngay trong tư tưởng của một số nghệ nhân tự cho mình là chính thống, làm hạn chế phần nào yếu tố tích cực của trò diễn. Thêm vào đó là một số kẻ “mua thần bán thánh” làm cho trò diễn bị thoái hóa, biến dạng, gây mất lòng tin trong dân gian. Theo các nghệ nhân cao tuổi trong nghề hầu bóng, thật ra ngồi đồng nguyên thủy không thay đổi nhiều trang phục theo từng giá đồng như hiện nay, và việc ban lộc, ban tiền cho người xem cũng chỉ là rất tượng trưng thôi. Còn khi vào đến thành thị hiện nay, ngồi đồng - múa Bóng dần chịu sự chi phối của kinh tế, thương mại khi người ta gắn nó với các yếu tố của đời thường, trở nên nặng về phô trương, hình thức và bị biến tướng đi khá nhiều. Chẳng hạn là tâm lý “tốt lễ dễ kêu”, đồ lễ càng đủ đầy, càng nhiều càng tốt. Làm như vậy thì hầu đồng đã đi xa khỏi bản chất của nó quá nhiều. Đó là chưa kể tới việc hầu đồng bị lợi dụng vào mục đích mê tín dị đoan. Bởi vậy xưa nay diễn xướng dân gian nhạc chầu văn tế Thánh Mẫu, hát dâng hoa, ngồi đồng - múa bóng luôn tồn tại hai trạng thái: một mặt mang tính tích cực, chính thống, nghệ thuật và mặt kia là sự tiêu cực, kỳ dị./.

Nguyễn Man Nhiên & Nguyễn Tứ Hải

Bài liên quan