QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

Bài cùng tác già

- Mùa xuân Ê - Đê

- Truyện thơ và bài vãn ở Khánh Hòa

- Lý Bạch và bài thơ Hoàng Hạc Lâu

- Tam thập lục kế có phải là của Tôn Tử không?

- Những gánh Bài chòi ở quê tôi

- Mùa xuân bàn chuyện xin xăm Đức Thánh Trần

- Gió đã chuyển mùa

- Cấu trúc thờ tự tại đền Trần Hưng Đạo - Nha Trang

- Lương Châu Từ và nỗi buồn chiến tranh

- Rượu Hồng Đào

- Bến Phong Kiều và tiếng chuông Hàn San

- Từ Đạt và Chu Nguyên Chương

- Cấu trúc hệ thống thờ tự trong đình làng Ninh Hòa ...

 

 

 

Bài chòi và nghệ thuật độc diễn

Hình  Phước Liên

Bài chòi ngày nay đã trở thành một trong những loại hình của sân khấu kịch hát truyền thống của Việt Nam. Điều đó cho thấy rằng, bản thân nghệ thuật Bài chòi có nhiều đặc điểm, mà nghệ thuật hát ca là một yếu tố nổi trội nhất đã làm nên dáng vóc riêng có của sân khấu kịch hát Bài chòi. Bài viết này chúng tôi chủ yếu đề cập đến một số đặc trưng ca hát của Bài chòi dân gian – Di sản văn hóa phi vật thể đang có nguy cơ bị mai một.

1. Bài chòi – nghệ thuật độc diễn:

Nhà soạn tuồng lỗi lạc Nguyễn Hiển Dĩnh có câu đối viết về đặc trưng nghệ thuật Hát Bội rất hay: “Thốn thổ thị triều đình châu quận/ Nhất thân kiêm phụ tử quân thần”, nhưng xem ra lại quá đúng với hoạt động của các gánh Bài chòi. Bởi lẽ, với diện tích chừng mươi, mười lăm mét vuông, không có cảnh trí, diễn viên không thay đổi trang phục trong suốt đêm diễn và một người đôi khi phải thủ nhiều vai trong cùng vở diễn thì cũng chỉ có ở Bài chòi trải chiếu mà thôi. Với hình thức sân khấu hết sức giản đơn và nội dung câu chuyện cũng rất quen thuộc, được hát đi, hát lại mãi mà sao vẫn hấp dẫn được người xem?

Thưa rằng, sức hút nằm ngay trong nghệ thuật hô hát Bài chòi!

Không được may mắn như các loại hình sân khấu khác, Bài chòi đi lên sân khấu với vốn liếng chỉ có mỗi lối “Hô thai” – làn điệu hát mang tính chất mô hình, được viết theo thể thơ lục bát và lục bát biến thể. Về sau, cũng từ điệu thức Nam hơi Oán và hơi Lụy (Ai) ấy, các nghệ sĩ đã cải biến thêm để hình thành nên hai làn điệu chính cho sân khấu Bài chòi.

Mặt khác, khi đã lên sân khấu thì không chỉ sử dụng cách hát đẹp giọng mà còn phải hát theo diễn tiến của câu chuyện kể, theo tâm trạng của nhân vật, nhất là khi có sự đối đáp của các nhân vật với nhau. Thế là, cùng với cách hát khoan thai, đều đặn của “Hô thai”, các nghệ sĩ lại cải biến thêm lối hát “đạp nhịp” để tạo ra những phách đảo, phách nghịch nhằm diễn tả các trạng thái tình cảm của nhân vật và diễn biến kịch.

Khi nhịp phách đã thay đổi thì sự tiến hành giai điệu buộc cũng thay đổi theo. Để thích ứng với lối hát “đạp nhịp”, các nghệ sĩ Bài chòi đã thêm các hư từ, điệp từ vào các câu lục bát trong truyện thơ nhằm làm phong phú thêm điệu hát. Nhiều nghệ sĩ còn trộn cả các hơi để tạo thêm màu sắc mới. Chỉ một câu lục bát mà câu sáu thì hơi Oán còn câu tám lại hơi Lụy, đôi khi chỉ trong mỗi câu tám mà nghệ sĩ sử dụng cả hai hơi. Cách hát đầy ngẫu hứng và tài hoa ấy đã được chấp cánh bởi tính chất mô hình của làn điệu Bài chòi và thiết nghĩ cũng chỉ ở Bài chòi mới có. Về sau, Bài chòi lại tiếp thu cách hát Nam Xuân của Hát Bội, Xàng Xê trong nhạc Lễ để vào sân khấu của mình và định hình thành hệ thống làn điệu đặc trưng gồm: Hơi Oán, hơi Lụy, hơi Xuân và hơi Dựng mà ngày nay ta vẫn gọi là: Xuân Nữ, Xàng Xê lụy, Nam Xuân và Xàng Xê dựng. Với bốn làn điệu mang tính chất mô hình ấy, đã tạo điều kiện cho các nghệ sĩ Bài chòi thỏa sức sáng tạo theo cảm xúc của mình, làm cho vai diễn của mình mới trong từng đêm diễn để không làm khán giả bị nhàm chán.

GS. Trần Văn Khê kể lại rằng: “Tôi nhớ lại trước đây ở tỉnh Nghĩa Bình có một nghệ sĩ Bài chòi tên Mai, chỉ với một chiếc khăn vắt vai và cây quạt trên tay, một mình đóng nhiều vai với diễn xuất tuồng Thoại Khanh, Châu Tuấn hết sức tài tình khiến tôi ngồi xem say mê suốt nửa giờ đồng hồ mà xúc động vô cùng.” Về sau ông vẫn thường nói: "Nếu chúng ta đánh mất nghệ thuật độc diễn thì Bài Chòi chẳng còn gì để xem nữa”. 

2. Lồng điệu, chuyển điệu,– nét độc đáo của nghệ thuật Bài chòi

Có thể nói, Bài chòi là loại hình nghệ thuật độc diễn (mà lại độc diễn bằng ca hát), vì thế, sức hấp dẫn của nó phụ thuộc chủ yếu vào tài năng hô hát của anh Hiệu trong trò chơi đánh Bài chòi và diễn viên trong Bài chòi chiếu (Bài chòi kể chuyện).

Một trong những yếu tố quyết định tạo nên nghệ thuật độc diễn của Bài chòi chính là sự lồng điệu, chuyển điệu (01) rất linh hoạt trong ca hát. Tất cả các làn điệu (02) Bài chòi đều được kiến tạo trên thể thơ lục bát, nhưng tính chất của từng làn điệu lại có nét riêng biệt và trong từng làn điệu nếu sử dụng tiết tấu, ngữ khí khác nhau cũng sẽ tạo nên sắc thái tình cảm khác nhau. Cho nên, từ những làn điệu cơ bản ấy, những nghệ sĩ tài năng có thể đảm nhiệm cùng lúc vừa là người kể chuyện, vừa là những nhân vật với những cung bậc tình cảm khác nhau mà không làm cho người xem nhàm chán. Đấy là điều mà ở các bộ môn kịch hát truyền thống khác như Cải lương, Chèo…vốn dĩ ca hát trên nền tảng những bài bản (03) khó có thể làm được; còn nghệ thuật Hát Bội, tuy cũng có rất nhiều làn điệu, nhưng mỗi làn điệu lại được viết ở một thể thơ khác nhau và cũng bị khống chế bởi số lượng khổ thơ cho từng câu hát, vì vậy mà cả Hát Bội cũng không thể trở thành nghệ thuật độc diễn được.

Hãy xem trích đoạn “Ông Xã – Bà Đội” do một nghệ sĩ Bài chòi độc diễn ta sẽ thấy sự lồng điệu, chuyển điệu đã làm cho câu chuyện đôi co của hai vợ chồng thật nhiều cung bậc: Ông Xã từ nói rồi chuyển sang hô Nam Xuân để diễn tả sự chê trách người vợ:“Dù cho xạ ướp hương xông/ có thơm chi lắm cũng lấy lộc chồng mà thơm/ Mụ chẳng lo ngày quãy, ngày đơm/ con cá không đánh vãy, con tôm không lột đầu/ Mụ chẳng lo gánh nước tưới trầu/ hẹ hành để héo, dây bầu mụ để khô…” rồi tăng dần nhịp điệu để chuyển sang hát Cổ Bản nhằm diễn tả sự tức giận, trách mắng: “Mụ chỉ lo son phấn điểm tô/ nhỏng nha, nhong nhảnh tựa như đồ lầu xanh/ Hèn chi thiên hạ họ nói hành/ rằng vợ ông Xã Bảy tựa con tinh trên đầu đèo/ Xưa rày hàng xóm họ đồn reo/ sao mụ không chết quách đặng tao vật heo ăn mừng…” Hai điệu Nam Xuân và Cổ Bản vốn tương cận về tính chất đã được sử lý nối tiếp nhau để diễn tả tâm trạng ông Xã càng nói càng tức giận mà người nghe không thấy có sự gợn nào trong quá trình chuyển điệu.

Trước lời đay nghiến và đòi để bỏ của người chồng, nghệ nhân độc diễn làm một động tác bước nhỏ, tháo chiếc khăn trên đầu rồi vắt trên vai rồi từ nói chuyển giọng sang điệu Xuân Nữ hát: “Ông Xã à, ông để tôi thì phải làm tờ minh bạch, nhà thời chia dọc, thóc phải chia ngang/ bao nhiêu thúng, mũng, dừng, sàng cũng phải chia/ Rỗ mây , kéo vạch, nong nia/ đũa con, đũa bếp cũng phải chia tức thì/(…) “Ở nhà bếp có một chiếc cối xay/ ông thớt trên, tôi thớt dưới cũng chia ngay cho đồng phần/ Tôi đây chẳng lụy, chẳng cần/ thà tôi về xứ lấy anh trai cày…” rồi đột ngột chuyển sang hơi lụy (điệu Xàng Xê lụy) để sụt sùi hát tiếp: “…Ở với ông nhiều nỗi đắng cay/ nay ông đào, mai ông chửi cả ngày luôn đêm/ Thân tôi như thể con chim/ chích đôi lẻ bạn đi tìm cội xưa…” Cứ thế, lúc lồng điệu, lúc chuyển điệu đã làm cho lớp độc diễn của người nghệ sỹ Bài chòi thật sinh động, cuốn hút.

Có thể nói, lớp “Ông Xã để vợ” trong vở “Ông Xã – Bà Đội” là lớp ca hát điển hình với nhiều cung bậc cảm xúc được tạo nên từ sự chuyển điệu, lồng điệu của nghệ thuật hô hát Bài chòi dân gian vậy!

3. Tiếp thu và phát triển đặc trưng nghệ thuật ca hát Bài chòi

Phương thức ca hát độc đáo này đã được các nghệ sĩ đời sau tiếp thu và không ngừng phát triển. Năm 1957, khi dàn dựng vở Thoại Khanh – Châu Tuấn trên sân khấu của đoàn Dân ca kịch Liên khu V, nhóm tác giả đã sử dụng phương thức lồng điệu, chuyển điệu để tạo nên các lớp ca hát Bài chòi đầy cảm xúc. Đặc biệt, lớp “Thoại Khanh, Tuấn Mẫu tiễn Châu Tuấn đi thi” là một sáng tạo giàu  tính thẩm mỹ, chứng tỏ sự độc đáo riêng có của nghệ thuật ca hát Bài chòi. Trong lớp diễn này các tác giả đã sử dụng phương thức chuyển điệu rất nhuần nhuyễn, từ: Nói lối chuyển sang Xuân Nữ - Vè Quảng và lại chuyển sang Lý thương nhau để kết.

Qua trích đoạn trên ta thấy, không chỉ dừng lại ở lồng điệu, chuyển điệu, trong hệ thống các làn điệu Bài chòi mà ở đây đã mở rộng sự chuyển điệu từ làn điệu Bài chòi (Xuân Nữ) sang các làn điệu dân ca Khu V (Vè Quảng, Lý thương nhau) một cách tinh tế, ngọt ngào mà “không ai không công nhận là không Bài chòi”.(04)

Ở Khánh Hòa, các tác giả Nguyễn Sỹ Chức, Hình Phước Long trong nhiều năm qua cũng đã học tập những kinh nghiệm của các bậc tiền bối để tiếp tục tạo ra những cách lồng điệu, chuyển điệu rất sáng tạo trong các tác phẩm của mình. Các ông không chỉ thực hiện lồng điệu, chuyển điệu từ các làn điệu Bài chòi với các bài dân ca Khu V, mà còn mở rộng phương thức này ra nhiều hình thức để tạo những hiệu ứng sân khấu mới mẻ hơn:

Ngày nay, các nhà biên kịch, nhạc sĩ, diễn viên của của bộ môn này đã không ngừng  tiếp thu và phát triển nghệ thuật lồng điệu, chuyển điệu thành thế mạnh đặc trưng của nghệ thuật sân khấu Bài chòi, và như G.S. Hoàng Chương đã viết: “…Bài chòi dù phát triển tới đâu nhưng nếu biết giữ cái gốc, giữ bản sắc, giữ căn cước của nó thì vẫn là Bài chòi. Giống như người trồng hoa, phải ghép hoa trên các gốc của một cây hoa cổ thụ, thì dù bông hoa có khác màu sắc, nhưng vẫn là loại hoa mang tên của chính nó.” (05)

Tiểu kết:

Một bộ môn nghệ thuật có gốc rễ sâu đậm từ dân gian, lại có khả năng tích hợp những yếu tố dị biệt để tự làm mới mình thì chắc chắn sẽ còn tồn tại và phát triển. Chỉ có điều như G.S. Trần Văn Khê nói: “Rõ ràng nếu chúng ta cố công đầu tư, đào tạo được những nghệ sĩ tài ba để biểu diễn thuần thục nghệ thuật Bài chòi thì cũng có thể thu hút được người thưởng lãm cũng như đưa ra giới thiệu với bạn bè quốc tế. Từ đó trong nước sẽ có được sự quan tâm hơn để đem lại sức sống cho ca kịch Bài chòi được hồi sinh đúng với giá trị bộ môn nghệ thuật đặc sắc cha ông để lại. Nếu không, đến lúc nào đó Bài chòi bị mai một thì sẽ là một điều vô cùng đáng tiếc.”

Chú thích:

 (01) Chuyển điệu: Sự di chuyển từ giọng điểu cũ sang giọng điệu mới trong tiến trình của bản nhạc với sự khẳng định bằng hòa âm, điệu thức và bằng thời gian đủ để củng cố cho giọng điệu mới đó. (Từ điển Bách khoa Việt Nam , Tập 1, trang 169, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 1995).

 (02) Làn điệu: Cấu trúc âm nhạc có giai điệu cơ bản mang tính chất lòng bản, cho phép một  sự biến đổi, xê dịch các yếu tố âm nhạc cho phù hợp với thanh điệu và ngôn điệu cụ thể của từng lời ca. Trong dân ca Việt Nam, làn điệu thường gồm hai câu nhạc, ứng với một cặp thơ làm lời ca. Đầu và cuối mỗi trổ của làn điệu có thể có một bộ phận nhạc gọi là nhạc đáp (Xướng gọi, Xô đáp; láy đầu, láy cuối). (Từ điển Bách khoa Việt Nam , Tập 2 trang 635, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2002).

(03) Bài bản: Thuật ngữ chỉ các bài trong tuồng truyền thống. Khi hát có nhịp gõ. Có hai hệ: hệ làn điệu là hệ chính, được sử dụng nhiều hơn; hệ bài bản là hệ phụ, nhưng về số lượng lại nhiều hơn làn điệu. Phần lớn bài bản xuất phát từ các điệu dân ca. (Từ điển Bách khoa Việt Nam , Tập 1 trang 116, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 1995).

(04) (05) Trích: Báo cáo đề dẫn Hội thảo khoa học “Nghệ thuật Bài chòi” của G.S. Hoàng Chương, ngày 11 tháng 9 năm 2013 tại Quy Nhơn - Bình Định.