QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

Bài cùng tác giả

- Lịch sử chùa Tổ Đình Thiên Phước, thôn Phú nghĩa, xã Ninh Đông, TX Ninh Hòa

- Bỏ "Tiên học lễ" thì đạo đức xã hội sẽ ra sao?

- Những vấn đề liên quan đến đình Mỹ Hiệp, Ninh Hòa

- Câu nói : "Quân sử thần tử...Phụ sử tử vong..." là của Nho gia hay Pháp gia?

- Đôi điều tản mạn về nghi thức cúng đình - miếu ở vùng đất Diên Khánh - Khánh Hòa

- Đại Nam Thực Lục viết về cái chết của Trung thư Phụng chính Trần Văn kỷ

- Chiến thuật hạ thành Ngọc Hồi của quân Tây Sơn

- Vài nét về lịch sử, địa lý khu vực suối Hoa Lan Ninh Hòa

- Văn miếu Diên Khánh là văn miếu cấp tỉnh hay cấp huyện?

- Văn miếu Khánh Hòa

- Cụ Đỗ Thúc Tĩnh, một vị quan có tiếng - CẦN - CÁN - CÔNG - LIÊM, được vua, quan, dân tín nhiệm và ái mộ

- Chuyện liên quan đến các quan lại ở tỉnh Khánh Hòa vào những thập niên cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20

- Tên các tổng, xã, thôn, ấp, hộ của tỉnh Khánh Hòa thời vua Đồng Khánh

- Mả ông Tướng

- Kiến trúc thành Diên Khánh và cách trùng tu tôn tạo hiện nay

- Võ Tánh có được cải theo họ chúa Nguyễn không?

 

 

 

 

 

TẢN MẠN TÊN GỌI CỦA MỘT VÀI XỨ ĐẠO Ở KHÁNH HÒA

Kỳ 1

Trước đây dưới thời linh mục Benedicto Nguyễn Công Phú làm linh mục quản xứ giáo xứ Cây Vông, linh mục vẫn duy trì cách gọi và phân chia khu vực trong giáo xứ đã có từ thời linh mục Gioan Phùng Văn Như và linh mục Vincente Lê Công Khương : giáo xứ chia thành bốn khu vực, gọi tắt là “Khu”. Đó là khu Phê rô; khu Phao lô; khu Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp; khu Fatima.

Đến thời linh mục Augustino Mai Hứa bỏ cái từ “Khu” vì theo linh mục cái từ “Khu” nghe không được thanh nhã cho lắm (Ví dụ có người hỏi: Anh ở khu nào? Thay vì trả lời: Tôi ở khu Phê rô hoặc khu Phao lô thì họ lại nói tắt: Tôi ở trong khu ông A hoặc trong khu ông B [do ông A hoặc ông B làm trưởng khu]) nên đổi “Khu” thành “Giáo họ”. Ở giáo xứ Đồng Hộ không gọi là “Khu” cũng không gọi “Giáo họ” mà  gọi là “Khu giáo A; Khu giáo B…”

Cái từ “Khu giáo” nghe hơi khiên cưỡng, bởi vì trong từ ngữ giáo hội Việt Nam sử dụng thì từ “giáo” được đặt lên phía trước như: giáo tỉnh, giáo khu, giáo phận, giáo hạt, giáo xứ, giáo họ, giáo điểm... Giáo họ là cách gọi nửa Hán ,nửa nôm, tức là họ đạo. Chẳng lẽ trong giáo xứ Cây Vông có bốn “Họ đạo” (Giáo họ).Giáo họ là một xóm đạo nhỏ cách nhà thờ chính khoảng vài cây số, ở đó cũng có một ngôi nhà thờ nhỏ để giáo dân đến đọc kinh sớm tối.Trong bài “ Giáo xứ Bình Cang: Hình thành và phát triển” ghi: “Giáo xứ Bình Cang trước kia có hai Giáo họ là Hòa Tân và Cầu Ké. Hiện nay đã thành hai Giáo xứ. Họ lẻ Thánh Gia nay trở thành Giáo họ biệt lập”. Giáo họ được hiểu là “họ lẻ”. Giáo xứ là gọi theo âm Hán – Việt. Gọi theo cách nôm na là “Xứ đạo”, “Họ đạo”. Thế hệ của cha mẹ tôi không sử dụng từ “Giáo xứ” mà chỉ gọi là “ họ Cây Vông” hoặc “xứ Cây Vông” mà thôi. Nếu gọi đúng theo văn bản của Giáo hội trước đây là “Địa sở Cây Vông” (Hiện nay cổng vào nhà thờ Trà Kiệu, huyện Duy Xuyên, Quảng Nam vẫn còn bốn chữ “Địa sở Trà Kiệu”). Họ thì có “Họ chánh” và “Họ lẻ” (còn gọi là “Họ nhánh”). Họ chánh có nhiều họ nhánh. Trước năm 1943 họ Hà Dừa có nhiều họ nhánh như : Cây Vông, Đồng Dưa (Đại Điền), Đồng Dài,Đồng Hộ, Cư Thạnh. Cha phó của họ chánh tới ở luôn tại một họ nhánh gọi là “Cha phó biệt lập”. Đầu năm 1943 họ nhánh Cây Vông được tách ra khỏi họ chánh Hà Dừa để trở thành họ chánh với linh mục tiên khởi là linh mục An tôn Phạm Cảnh Chẩm quê Trà Kiệu. Họ Đồng Dưa (Đại Điền) trở thành họ nhánh của họ Cây Vông.

Hiện nay là thời đại thông tin toàn cầu, tại sao chúng ta không quy định thống nhất tên gọi các khu vực trong giáo xứ. Cũng cùng một giáo phận nơi thì gọi là “Giáo họ”, nơi thì gọi là “Khu giáo”, nơi thì gọi “ Giáo khu” (Vạn Giã), nơi thì gọi “Vùng” (Tân Hội- Phan Rang)…

Giáo xứ Hòa Thanh (Ninh An- Ninh Hòa)

Vào lúc 16 giờ ngày 19/07/2015 anh Nguyễn Xuân Nhị lớp Sao Biển 1958 tổ chức lễ tạ ơn mừng thọ thất tuần (70) tại nhà thờ giáo xứ Hòa Thanh, tôi cùng một số anh Sao Biển lớp lớn ra tham dự. Lâu nay tôi đến nhà anh Nhị nhiều lần nhưng chưa bao giờ đến nhà thờ Hòa Thanh. Lần đầu tiên đến nhà thờ Hòa Thanh nhưng đến trong dịp “cửu hạn phùng cam võ” (xe ra đến Phú Hữu thì trời mưa rỉ rả kéo dài cho đến khi anh em dự tiệc xong về đến Nha Trang trời vẫn còn mưa). Từ tiền đường nhà thờ tôi nhìn bao quát và nói với anh em là trong địa phận Nha Trang không có nhà thờ nào có thế đất đẹp như nhà thờ Hòa Thanh: lưng tựa vào núi nhìn ra cánh đồng bao la. Nếu giáo xứ đồi dào ngân quỹ thì nên mua ngọn đồi kế sau lưng nhà thờ để sau này có thể làm đồi Đức Mẹ hoặc đồi Thánh Giá thì rất đẹp.

Trong lúc tiệc tùng , tôi có đề nghị với linh mục Phê rô Trần Anh Phú, quản xứ Hòa Thanh: Sao cha không xin đổi tên giáo xứ thành Hòa Huỳnh để nhiều người biết đến hơn là Hòa Thanh?  Tên Hòa Thanh : “Rằng hay thì thật là hay/ Nghe qua chẳng biết xứ này ở đâu?”. Đúng y như vậy, nhiều người trong Giáo phận Nha Trang khi nói đến giáo xứ Hòa Thanh thì họ ngơ ngác không định vị được giáo xứ Hòa Thanh ở đâu! Tên Hòa Huỳnh phát âm theo tiếng địa phương là “Quà Quỳnh”. Còn khi phiên âm từ Hán sang Việt nếu không hiểu ngôn ngữ vùng miền sẽ phiên âm là Hòa Hoàng (người dân Đàng Trong cử tên Hoàng và đọc là Huỳnh)

Địa danh Hòa Huỳnh đã có trên 209 năm. Hòa Huỳnh là một trong chín dịch trạm trên đất Khánh Hòa dưới thời nhà Nguyễn. Ngày xưa trên đường thiên lý Bắc Nam cứ cách nhau khoảng 10 - 15 cây số thì đặt một Dịch trạm. Dịch trạm là để chuyển công văn hoặc đón rước các quan đi công cán từ dịch trạm này qua dịch trạm nọ. Tháng 2 năm Canh Thân(1800) đặt phu trạm ở dinh Bình Khang (dinh Bình Khang, năm 1803 đổi thành dinh Bình Hòa, năm 1808 đổi làm trấn Bình Hòa, năm 1832 đổi thành tỉnh Khánh Hòa) . Dinh Bình Khang có 9 dịch trạm tính từ Nam ra Bắc là Du Quân, Da Khê, Đại An, Phú Mỹ, Sa Quán, Toàn Thạnh, Tự Quán, Tô Hà , Chử Châu (Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục tập 1, Nxb Giáo dục, trg 407).

Trước năm 1806 vua Gia Long quy định lại tên các dịch trạm, dinh Bình Định thì có chữ Bình đứng trước, dinh Phú Yên thì có chữ Phú đứng trước, dinh Bình Thuận thì có chữ Thuận đứng trước, dinh Bình Hòa có chữ Hòa đứng trước. Chín trạm của dinh Bình Hòa được đổi tên (tính từ Nam ra Bắc): Hòa Quân, Hòa Do, Hòa Tân, Hòa Thạnh, Hòa Cát, Hòa Mỹ, Hòa Huỳnh, Hòa Lãng, Hòa Mã. Trạm Tự Quán (còn gọi là Quán Chùa) được đổi tên thành Hòa Huỳnh. Trạm nằm giữa ranh giới của hai dinh thì lấy tên của hai dinh ghép lại. Giữa Bình Định và Phú Yên là dịch trạm Bình Phú, giữa Bình Hòa và Bình Thuận (thời ấy Ninh Thuận chỉ là một phủ của Bình Thuận) gọi là Hòa Thuận, giữa Phú Yên và Bình Hòa gọi là Phú Hòa. Hoàng Việt nhất thống dư địa chí viết về trạm Phú Hòa: “Phú Hòa dịch, kiến tại Đèo Cả đỉnh trung, thử vi Phú Yên, Bình Hòa nhị dinh giáp giới chi sở. Cố danh Phú Hòa dịch. Kim phụng thiết dịch binh lục thập suất, Phú Yên dinh bán phần tam thập suất. Bình Hòa dinh bán phần tam thập suất. Hợp phân vi tam phiên, mỗi phiên nhị thập suất, thường nhật trực hậu tại trạm. Phàm hậu dịch trạm tại giáp giới chi sở. Giai phỏng thử lệ” (Trạm Phú Hòa, đóng ngay giữa đỉnh Đèo Cả, nơi địa giới của hai dinh Phú Yên và Bình Hòa, vậy nên đặt tên trạm là Phú Hòa. Nay đặt ở trạm 60 suất lính, dinh Phú Yên một nửa là 30 suất , Bình Hòa một nửa là 30 suất, hợp lại thành 3 phiên, mỗi phiên 20 suất thường trực ở trạm, lo việc trạm nơi vùng giáp giới, hai dinh đều tuân theo lệ ấy) (Lê Quang Định, Hoàng Việt nhất thống dư địa chí [Phan Đăng dịch] Nxb Thuận Hóa. Phần chữ Hán trang 1698-1697, phần dịch nghĩa trang 47)

Khi thực dân Pháp qua xâm lược và cai trị nước ta thì hệ thống dịch trạm của triều đình cũng dần bị mai một. Ngôi nhà dịch trạm Hòa Thạnh (trước có tên là Phú Mỹ ,do dịch trạm đóng tại địa bàn thôn Phú Mỹ, sau Phú Mỹ đổi thành Phú Khánh, nay thuộc xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh) tọa lạc tại ngã ba Mả Xá (Quốc lộ I đi lên nhà thờ Hà Dừa) mới bị phá bỏ cách nay khoảng vài thập niên. Hiện nay địa danh của 6 trong tổng số 9 dịch trạm trên đất Khánh Hòa đã bị mai một chỉ còn lại 3 nơi còn duy trì địa danh: Hòa Do, Hòa Tân và Hòa Huỳnh. Về phía Giáo hội Công giáo thì có hai nơi còn duy trì địa danh dịch trạm, đó là giáo xứ Hòa Do ở Cam Ranh, giáo xứ Hòa Tân ở Cam Lâm

Năm 1935 linh mục Nguyễn Đức Kính lập họ đạo Hòa Huỳnh thuộc thôn Ngọc Sơn. Linh mục xin trưng khẩn đất chung quanh nhà thờ Hòa Huỳnh để bổn đạo canh tác lấy huê lợi sử dụng cho họ đạo. Diện tích khu đất rộng 22 ha: đông giáp Quốc lộ I; tây giáp đường sắt; nam giáp hương lộ Ngọc Sơn (nay là Tỉnh lộ 7); bắc giáp suối nước.

Sau “giải phóng” giáo dân về lại quê lập nghiệp và chính quyền không cho giáo dân tái thiết nhà thờ tại địa điểm cũ mà phải dời lên phía Tây cách địa điểm cũ khoảng 3 cây số, tại thôn Gia Mỹ. Nhà thờ mới khởi công xây dựng vào ngày 15/06/1995 và khánh thành ngày 05/01/1997 và lấy tên là Hòa Thanh (ghép tên Giám mục Phao lô Nguyễn Văn Hòa và tên linh mục Ta đê ô Lê Văn Thanh- Linh mục quản xứ họ chánh Gò Muồng).

Hiện nay trên trang web Giáo phận Nha Trang, mỗi khi đề cập đến giáo xứ Hòa Thanh, thì kế sau hai chữ Hòa Thanh thường chua thêm hai chữ Đá Bàn. Đá Bàn là một địa danh cách nhà thờ Hòa Thanh khoảng gần 10 cây số. Vả lại địa danh Đá Bàn chỉ có người trong tỉnh biết mà thôi, còn địa danh Hòa Huỳnh thì rất nhiều người trong cả nước biết đến. Nếu sau này giáo xứ Hòa Thanh có đổi tên thì nên phục hồi lại tên Hòa Huỳnh

Đồng Trăng hay Đồng Trăn? (Diên Đồng- Diên Khánh)

Trước năm 1975 có tuyến xe lam chạy trên Tỉnh lộ 2 (chạy ngang hông nhà thờ Hà Dừa),hai bên hông xe ghi: Thành- Đồng Trăng và Đồng Trăng- Thành. Tuy nói đi Đồng Trăng nhưng xe lên ngày cầu Ồ Ồ thôn Lễ Thạnh xã Diên Thọ là dừng. Hai chữ Đồng Trăng đã ăn sâu vào tâm trí của tôi, và theo tôi suy nghĩ là nơi đây ngày xưa lúc đoàn người đầu tiên đến đây khai khẩn vào những đêm trăng nhìn trăng chiếu xuống ruộng đồng rất là thơ mộng nên mới chọn cái tên Đồng Trăng để đặt cho vùng đất vừa khai phá!

Sau năm 1975 Đồng Trăng trở thành khu kinh tế mới, muốn qua Đồng Trăng phải đi đò. Đò không chống , không chèo mà người lái đò chỉ vịn sợi dây cáp cột từ gốc cây cổ thụ bên này sông và gốc cây cổ thụ bên bờ bên kia mà lần đi tới, do nơi đó nước chảy lờ đờ. Sau này nhà nước mới làm cầu tràn (cầu chìm) để dân qua lại cho tiện, nhưng khổ nỗi là mỗi khi có mưa lớn trên nguồn  là nước tràn ngập cầu và không thể qua lại được, lại phải đi đò. Cách nay khoảng một năm nhà nước cho xây một cây cầu kiên cố nối liền hai bờ sông. Hai đầu cầu có biển hiệu ghi: “cầu Đồng Trăn”. Nhiều người không hiểu nguồn gốc địa danh cho là người chủ trương viết biển hiệu là viết sai. Kẻ thì đùa với nhau: Trăng qua cầu mất “gờ” biến thành “Trăn”. Nhiều người lý luận: địa danh Đồng Trăng không có nghĩa. Mặt trăng soi chung nên đồng nào chẳng là Đồng Trăng đâu riêng xã Diên Đồng mới có Đồng Trăng! Có người lại bảo: Ngày xưa những người đầu tiên đến đây khai khẩn thấy  trăn bò lổn ngổn nên mới đặt là Đồng Trăn.

Nhân đọc quyển Đại Nam thực lục chính biên đệ lục kỷ do Quốc sử quán triều Nguyễn soạn bằng chữ Hán và được Cao Tự Thanh dịch ra quốc ngữ nơi trang 540 ghi vào tháng 12 năm Đinh Mùi (dương lịch sang năm 1909): “Bộ Hộ tâu nói quan tỉnh Khánh Hòa Phạm Ngọc Quát khám việc Lê Bá Cử làm đơn nói khai khẩn xứ Đồng Trăng trong hạt hiện đã thành ruộng đất 400 mẫu, xin sáp nhập vào xã Khánh Xuân (nay là thôn Khánh Xuân ,xã Diên Lâm- TG) bên cạnh, lập sổ chịu thuế, Bá Cử  khai khẩn có công sẽ nghĩ thưởng riêng, theo như lời tâu”.Ngoài ra ông Lê Bá Cử “lại đắp một con đường từ xứ Đồng Trăng tới tỉnh thành khoảng 12.000 thước tây, khiến nhân dân đi lại buôn bán được tiện lợi” (Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục đệ lục kỷ[Cao Tự Thanh dịch], Nxb Văn hóa- Văn nghệ, trang 540; 565). Tuy dịch giả ghi là “xứ Đồng Trăng” nhưng bên dưới cuối trang có dòng chú thích:  Nguyên bản viết là “Đồng Trăn”.

Con đường dài khoảng 12.000 thước tây ấy chính là Tỉnh lộ 2 nối dài từ thành Diên Khánh lên Đồng Trăng (trước năm 1945, thành Diên Khánh là tỉnh lỵ của tỉnh Khánh Hòa nên gọi là “tỉnh thành”. Sau năm 1945 tỉnh lỵ Khánh Hòa dời xuống Nha Trang và địa điểm tỉnh lỵ cũ trở thành quận lỵ quận Diên Khánh. Tuy thành Diên Khánh đã trở thành quận lỵ nhưng thế hệ cha mẹ tôi mỗi khi có việc gì qua quận lỵ vẫn gọi là : Qua bên tỉnh)

Trong âm Hán Việt không có âm “trăng”. Tôi cố tìm cho được nguyên văn hai chữ Đồng Trăn bằng chữ Hán. Và trong địa bạ (sổ khai đất ruộng) của xã Đồng Trăng khai năm 1811 (Gia Long năm thứ 10) và thấy chữ “Trăn” thuộc bộ “mộc”. Giở Hán Việt tự điển của Thiều Chửu giải thích chữ “Trăn” thuộc bộ “mộc” tìm được 3 giải đáp: 1- cây trăn. 2- bụi cây. 3- bùm tum, vướng vít. Như vậy ta có thể kết luận là vùng đất này ngày xưa có nhiều cây trăn. Năm 1811 xã Đồng Trăn thuộc tổng Thượng, huyện Hoa Châu. Địa bạ xã Đồng Trăn được nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu tóm gọn:

Đồng Trăn xã (xứ An Lâm)

- Đông giáp sông và rừng.

- Tây giáp rừng.

- Nam giáp địa phận xã Triều Sơn (nay là Cẩm Sơn- TG)

- Bắc giáp sông và rừng

- Toàn diện tích 10 mẫu 04 sào:

- Tư điền  07 mẫu.

- Tư thổ châu  02 mẫu 04 sào

- Đất hoang 01 mẫu (1 khoảnh)

Khê cừ 1 dải 20 tầm (Nguyễn Đình Đầu, Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn – Khánh Hòa, Nxb TP.HCM, trang 205)

Đây có thể xem là tư liệu xưa nhất của xứ Đồng Trăn. Hiện ở xã Diên Đồng có giáo xứ mang tên Đồng Trăng. Rất mong giáo quyền nên sửa lại tên giáo xứ cho đúng với tên gốc của nó!

Nguyễn Văn Nghệ

Xem tiếp kỳ 2