QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

 

 

 

 

 

ĐƯỜNG ĐI VEN BIỂN qua huyện VẠN NINH

NGÔ VĂN BAN

 

 

Đường bộ (Quốc lộ 1A) và đường sắt ngang qua huyện Vạn Ninh, từ đèo Cả xã Đại Lãnh phía bắc huyện vào đến xã cuối huyện phía nam là xã Vạn Hưng. Dưới triều Nguyễn, theo Hoàng Việt nhất thống dư địa chí của Lê Quang Định ([1]), đường bộ đi trong huyện phải qua một số trạm dịch đặt dọc theo đường từ phía bắc huyện đến phía nam huyện. Trạm dịch ở phía bắc huyện có tên là trạm Phú Hòa đặt trên núi Đại Lãnh là ranh giới giữa hai tỉnh Phú Yên và Bình Hòa (Khánh Hòa ngày nay) nên có tên là “Phú Hòa“. Phía nam trạm là trạm Hòa Mã, đường đi ngày xưa dài 19 dặm (gần 8km), hai bên đường cây cối rậm rạp, đường đi gập ghềnh. Đường phải qua nhiều dốc, suối, hố, khe, giồng cát, qua vùng Tu Bông gió thổi ào ào …Trạm Hòa Mã, lập ở chân đèo Cổ Mã, ở thôn Tân Phước, nay thuộc xã Vạn Phước, nằm giữa vùng rừng núi, đường đi toàn bãi cát, ven biển, đi về phía nam đến trạm Hòa Lãng dài 27 dặm (khoảng hơn 13 km). Đường đi cũng qua suối, truông, ngòi…, có những quảng đường đi khoảng hơn 2 cây số rưỡi là đường đi ven biển, ven ruộng … Trạm Hòa Lãng ở thôn Trung Dõng, nay thuộc xã Vạn Bình, trạm lập hai bên đều là vùng đất trống, đất ngập nước, không có dân cư. Đi về phía nam đến trạm Hòa Hoàng dài 30 dặm (khoảng 12km). Đường đi qua ngòi, qua sông, lũng …Trạm Hòa Hoàng ở thôn Xuân Sơn, xã Vạn Hưng là trạm cuối cùng trên đất huyện Vạn Ninh, đi về phía nam đến trạm Hòa Mỹ dài 17 dặm (khoảng hơn 7km), trạm đặt trên vùng đất huyện Ninh Hòa. Trên đường đi, người đi đường thường gặp thú dữ, như cọp, beo, gấu … Do đó, họ thường tụ họp đông người đi trên đường để bớt nguy hiểm.

 

 

ĐỊA DANH HUYỆN VẠN NINH DỌC ĐƯỜNG VEN BIỂN QUA CA DAO, TRUYỀN THUYẾT,TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN

 

Huyện VẠN NINH phía bắc giáp tỉnh Phú Yên. Tỉnh Khánh Hòa và tỉnh Phú Yên có ranh giới là núi ĐẠI LÃNH, còn gọi là núi ĐỒNG TRỤ,  nơi đây một thời xa xưa từng là mốc giới biên viễn của nước Đại Việt với nước Chăm Pa. Núi có dãy mạch chạy dài rất xa, đứng sừng sững vững chắc như bức trường thành. Trong dãy núi này có ngọn Thạch Bi Sơn, thường gọi núi Đá Bia, ngọn cao nhất thuộc hệ đèo Cả, nằm trong tỉnh Phú Yên. Núi cao 626 m,  chạy từ tây xuống đông sát biển, hình thế hoành tráng. Trên núi có đèo CẢ nằm trên Quốc lộ 1A. Có hầm xe lửa và đang xây dựng hầm đường bộ qua núi.

 

Trên đỉnh núi mây mù thường xuyên che phủ tạo nên cảnh vật kỳ ảo, trông thật hùng vĩ. Những ngày trời quang mây tạnh, đứng ở núi này có thể nhìn rộng ra xa cả vùng biển đảo mênh mông thuộc chủ quyền của Việt Nam. Ngay dưới chân núi là Vũng Rô (trước 1975 thuộc tỉnh Khánh Hòa, từ năm 1993 thuộc tỉnh Phú Yên) rất sâu và kín gió, những thuyền bè đi biển gặp bão tố có thể chạy vào trú ẩn rất thuận tiện, được an toàn.

 

Vì đắc lợi nhiều mặt của dãy Đại Lãnh, Vua Minh Mạng đã cho khắc hình phong cảnh Đại Lãnh vào Tuyên Đỉnh là một trong chín chiếc đỉnh đồng to lớn đặt trong Hoàng thành Huế. Năm 1853, dưới triều vua Tự Đức (Trị vì 1848-1883), Đại Lãnh có tên trong từ điển quốc gia do triều đình biên soạn.  Năm 2008, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch đã ra quyết định công nhận núi Đại Lãnh - Thạch Bi Sơn là thắng cảnh cấp Quốc gia.

 

Từ tỉnh Phú Yên, vượt ĐÈO CẢ là đến huyện VẠN NINH thuộc tỉnh Khánh Hòa. ĐÈO CẢ nằm trên dãy núi Đại Lãnh, có độ cao 512m. Tên Cả chỉ ngọn đèo cao trong dãy núi lớn (ĐẠI Lãnh). Đường đèo dài 12km có đến 98 vòng cua. Quốc lộ 1A qua đèo chạy sát bờ vực sát biển, sâu thăm thẳm. Đỉnh đèo Cả trước năm 1993 là ranh giới giữa hai tỉnh Khánh Hòa và Phú Yên. Nhưng từ tháng 12-1993, theo Nghị quyết của Quốc hội, ranh giới giữa 2 tỉnh từ đỉnh cao nhất 600m ở đèo Cả xuống mõm Đá Đen, tới chân mép nước đảo Hòn Nưa. Bên đèo về phía nam là Vũng Rô, trước đây là thuộc xã Đại Lãnh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, từ nay (1993) được sáp nhập vào xã Hòa Xuân, huyện Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

 

Từ tháng 11 năm 2012, đã khởi công xây dựng hầm đường bộ qua đèo Cả. Hầm chính có 2 làn xe, tổng chiều dài toàn tuyến là 11,125km, ngắn hơn Quốc lộ 1A đi trên đèo khoảng 8,875km. Đường hầm đèo Cả và đèo Cổ Mã sẽ hoàn thành vào năm 2016.

 

Ca dao có câu mượn đèo Cả để tỏ một thái độ của con người Vạn Ninh, luôn tôn trọng và giữ gìn truyền thống đạo lý quý báu của người Việt :

 

Con ngựa tía ăn quanh ĐÈO CẢ

Bóng trăng rằm sắp ngả về đông

Chẳng thà giục mã về không

Chớ không thèm cướp vợ tranh chồng người ta.

Hay:

Bước lên ĐÈO CẢ

Thấy MẢ ÔNG CAO BIỀN

Thấy đôi chim hạc đương chuyền nhành mai.

 

Mả CAO BIỀN nằm phía tay trái trên đường Tuần Lễ (xã Vạn Thọ) đi Đầm Môn (xã Vạn Thạnh). Gọi là mả, nhưng không có mộ chí, từ một đụn cát cao nhất vùng, dân suy diễn đó là ngôi mộ ông Cao Biền. Kèm đó là một truyền thuyết: Ông Cao Biền đến vịnh Vân Phong ngắm cảnh, nghe gió Tu Bông, cưỡi cá nược đi trên vùng vịnh. Bởi thú ham chơi nên vua Thủy Tề quở phạt, lâm bạo bệnh, qua đời và chôn tại đây ([2]). Cao Biền là một danh tướng thời nhà Đường (618-907) ở Trung Hoa. Ông được phong làm Tiết độ sứ đất Giao Châu, tức một phần nước ta ngày xưa. Tương truyền ông rất giỏi về địa lý, có phép yểm đất, phá những chỗ sơn thủy đẹp và hại rất nhiều long mạch ở nước ta. Mục đích là để nước ta không có những vì vua chống đối lại triều đình Trung Quốc.

 

Đèo Cả còn được nhắc đến trong chuyện “ăn” trong câu câu ca dao được truyền tụng sau đây có những địa danh ở huyện Vạn Ninh lẫn thị xã Ninh Hòa, ai muốn “ăn” gì thì đến đó:

 

Muốn ăn to thì lên DỐC MÕ

Muốn ăn nhỏ thì xuống HÒN HÈO

Muốn ăn heo ra ĐÈO CẢ

Muốn ăn chả lên NÀ TRE

Muốn ăn chè lên TỨ CHÁNH

Muốn ăn bánh lên HÓC CHIM

 

Các địa danh trong câu là những địa danh có liên hệ đến thời kháng chiến chống Pháp của quân dân Khánh Hòa. Đó là những nơi xảy ra những trận đánh và còn là là những căn cứ cách mạng trong 2 cuộc kháng chiến.     

 

Tại núi DỐC MÕ, núi cao 1.015m, có đường mòn xuyên sơn qua tỉnh Phú Yên, các cán bộ chiến sĩ cách mạng thường dùng con đường này qua lại. Trên đường này quân Pháp hành quân bị phục kích chết rất nhiều, nên có câu: Muốn ăn to thì lên Dốc Mõ/ Muốn ăn nhỏ thì xuống Hòn Hèo. Ý nói muốn thắng lợi to trong chiến trận thì phục kích ở Dốc Mõ, còn xuống Hòn Hèo thuộc thị xã Ninh Hòa thì chỉ có những trận đánh nhỏ mà thôi. Còn núi HÓC CHIM nằm ở phía tây thị trấn Vạn Giã, cao 903 m, ngay chỗ nhà ga xe lửa (ga Vạn Giã) đi lên, thuộc thôn Tân Phú, xã Vạn Phú. Qua khỏi núi Hóc Chim là đến thôn Xuân Sơn, thuộc xã Vạn Hưng. Núi Hóc Chim cũng là một căn cứ cách mạng trong 2 cuộc kháng chiến. TỨ CHÁNH là thôn thuộc xã Vạn Bình. Còn NÀ TRE thì không rõ ở đâu.

 

Về núi non thì huyện Vạn Ninh có dãy núi TAM PHONG thường gọi là núi BA NON vì có 3 ngọn núi cao vút lên tầng mây. Ngọn cao nhất là TRẤN SƠN, tục gọi là HÒN GIỮ, cao 1.264m. Ngọn thứ nhì nằm phía đông Hòn Giữ, tên là HOÀNH SƠN, tục gọi là HÒN NGANG, cao 1.128m. Ngọn thứ ba nằm phía nam Hòn Ngang, tên gọi là HỘ SƠN, tục gọi là HÒN GIÚP. Dãy Tam Phong hùng vĩ như thế được ví với công ơn của cha mẹ :

 

Ngó lên đỉnh NÚI BA NON

Công cha nghĩa mẹ làm con phải đền.

 

Từ núi Ba Non, phát nguồn sông BìNH TRUNG, sông có độ dài 20km, chảy qua các thôn Tứ Chánh, Trung Dõng, Bình Trung, rồi chảy xuống cửa Gốc, ra biển tại vịnh Vân Phong, trên nguồn có suối mang tên Suối Cá. Ca dao có câu:

 

Bình Trung dòng nước xanh trong

Chảy về Trung Dõng, Vân Phong, Thái bình

Anh với em đẹp mối duyên tình

Đợi mùa cau chín sẽ trình mẹ cha.

 

Trong rừng núi Ba Non, có cây gió sinh ra trầm kỳ nên có nhiều người đi tìm. Những năm tháng xa cách trong hoàn cảnh đầy gian nan, nguy hiểm, nhưng tình cảm của họ vẫn luôn hướng về quê nhà, về những người yêu dấu:

 

Ngày ngày tháng tháng năm năm

Anh đi tìm trầm tận núi Ba Non

Trời trời nước nước non non

Dù xa xôi mấy vẫn son sắt tình.

 

Nằm ở giữa núi TAM PHONG (núi BA NON), còn có con đường mòn xuyên sơn qua lại giữa hai tỉnh Khánh Hòa và Phú Yên. Đường này có đèo CỤC KỊCH. Đường đèo này lắm đá cục, bàn chân người đi trên đó có âm vang lục cục lục kịch nên lấy đó làm tên đèo. Đường qua đèo này còn có tên gọi là đường Gia Long, vì trong trận chiến giữa Nguyễn Ánh và nhà Tây Sơn vào năm 1795, lúc Trần Quang Diệu, tướng nhà Tây Sơn vây thành Diên Khánh, Nguyễn Ánh đem quân cứu viện, sai Tống Viết Phước giữ Đại Lãnh, Võ Văn Lượng đóng đồn ở đèo Cục Kịch để chận đường tiếp viện cũng như đường rút của quân Tây Sơn. Sau trận đánh, Trần Quang Diệu bỏ thành Diên Khánh, không thể đi qua đường bộ được vì núi non hiểm trên, có quân mai phục, trấn giữ, nên phải thoát bằng đường biển. Khi Nguyễn Ánh lên ngôi, lấy niên hiệu Gia Long, đường qua đèo gọi là đường Gia Long. Trong kháng chiến chống Pháp, quân dân ta cũng tiêu diệt nhiều lực lượng Pháp ở vùng núi này.

 

Qua dèo Cả, tiến về nam là đèo CỔ MÃ. Giữa đèo Cả và đèo Cổ Mã là bãi biển ĐẠI LÃNH:

 

Xe qua đèo Cả sóng vang

Qua biển Đại Lãnh gió càng lạnh hơn

Từ khi nước biết tuổi non

Trăng thu vằng vặc, dạ còn nhớ mong.

 

Bãi biển Đại Lãnh khá rộng, dài với bãi cát trắng mịn, nước biển xanh biếc, độ thoải lớn, có thể bơi lội xa bờ, phong cảnh hữu tình. Ngoài khơi xa xa nhấp nhô HÒN NƯA, một cù lao có những vách đá dựng đứng trông như một pháo đài tiền tiêu canh giữ mặt biển suốt đêm ngày, trên đó có bia phân ranh giới biển giữa 2 tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa:

 

Hòn Nưa ngoài biển nhấp nhô

Vách đá dựng đứng sóng xô mấy từng.

Trong bài Vè Các Lái, khi ghe bầu đi qua vùng biển huyện Vạn Ninh, Khánh Hòa, nơi Hòn Nưa:

Hòn Nưa không thấp không cao

Ngước mắt trông vào bãi Võ sóng ngang

 

Bãi Võ đây là bãi biển Đại Lãnh. Bãi biển nằm lọt thỏm giữa một bên là đèo Cả ở phía bắc và một bên là đèo Cổ Mã ở phía nam. Ba mặt là núi bao quanh, mặt phía đông trông ra biển. Bãi biển Đại Lãnh kéo dài đến ba, bốn cây số con con như hình lưỡi liềm, bãi cát trắng phau bên những hàng dừa xanh mát. Phong cảnh ở đây thật thơ mộng và hữu tình, khí hậu mát mẻ, rất thích hợp với việc nghỉ dưỡng, nô đùa với sóng nước.

 

Nhà thơ Quách Tấn đã từng ví biển xanh Đại Lãnh như thảm cỏ xanh, trên đó những cánh buồm trắng ví như những cánh bướm bay lượn thảnh thơi, qua những câu thơ: Lặc lìa biển trải cỏ xanh/ Lô nhô sóng bạc trổ cành hoa tươi/ Vườn hoa bướm lượn thảnh thơi/ Gió đưa buồm trắng ra khơi chập chờn. Quốc lộ 1A và đường sắt đi ven bãi biển này. Bãi biển Đại Lãnh ngày nay hấp dẫn nhiều du khách trong tỉnh, trong nước và khách quốc tế:

 

Đại Lãnh nằm giữa cảnh tiên

Một bên nước nhược một bên non bồng

Bên em má đỏ môi hồng

Giữ rời biển rộng sóng lòng xôn xao.

 

Thời Nguyễn, con đường qua vùng Đại Lãnh nổi tiếng nhiều cướp đường hoành hành và cọp dữ. “Thời đó, hai ba người mạo hiểm vượt đèo Cả (dài 12km) kể như chấm dứt cuộc đời. Xóm dân chài ấp Đại Lãnh ở phía nam giáp chân đèo Cả nhiều đời gánh chịu tai ương: Mỗi lần có bão, gió thổi vào núi dội vách đá tạt ra hốt những chòi tranh vách lá, ghe xuồng để trên bãi ném xuống biển; nhưng ghê nhất là nạn cọp đe dọa ngày đêm ([3]). Người từ vùng ngoài vào phải đi từng đoàn để tránh nạn tai. Và theo truyền thuyết người đầu tiên khai phá vùng này là một sĩ tử quê ở tỉnh Thừa Thiên.

 

Theo truyền thuyết, vào năm thứ mười ba triều vua Thành Thái (1901), có một người quê ở Thừa Thiên tên là Phạm Ngũ Giáo, học cao tài rộng, nhưng lận đận đường công danh khoa cử. Khi đến vùng Đại Lãnh này thấy phong cảnh đẹp, có núi cao biển rộng, liền lưu lại lập gia đình để tháng ngày vui thú phong nguyệt. Sau đó, ông quy tụ một số người tha phương về đây lập làng lấy tên là Đại Lãnh. Tùy theo khả năng từng người, ông bố trí kẻ làm nông, người làm vườn, người lập quán bán buôn, người ra khơi đánh cá... Sau một thời gian được chính quyền công nhận thì Đại Lãnh càng trở nên thịnh vượng ...([4]). Đây cũng là một truyền thuyết phản ánh công cuộc khai phá buổi đầu của người Việt trên đất Khánh Hòa.

 

Kể từ ngày Quốc lộ 1A và đường sắt xuyên Việt được xây dựng và chạy ngang qua đây thì làng Đại Lãnh trở nên đông vui và trù phú. Ngày nay, Đại Lãnh trở thành một thị trấn hàng ngày đón tiếp nhiều lượt khách ra Bắc, vào Nam dừng chân nghỉ ngơi, ăn uống, tắm biển, thưởng thức những hải sản tươi sống.

 

Một địa điểm có tên là SƠN TẬP cách thôn Đại Lãnh 4km đường chim bay về phía tây QL 1A, là vùng bình nguyên với diện tích trên 982 ha, ở độ cao 300m so với mặt biển. Nơi đây, ngày xưa, tương truyền tướng lãnh của Nguyễn Huệ giấu quân để tập kích quân Nguyễn Ánh nên gọi là SƠN TẬP có nghĩa là nơi tập hợp quân Tây Sơn. Có người, không gọi là SƠN TẬP mà gọi là SÂN TẬP, vì cho đây là nơi luyện quân của Tây Sơn. Ở vùng này có nhiều cây dó bầu tạo trầm kỳ mà dân đi địu thường đến để khai thác. Chim muông và thú rừng cũng có nhiều ở đây. Đặc biệt có con chim chuông, dân đi địu nửa đêm nghe chim chuông hót là họ rất vui mừng, vì theo truyền thuyết, đó là dấu hiệu trong rừng có trầm kỳ. “Ở trong rừng lâu, hết ngày dài lại đêm thâu để tìm trầm, người đi điệu còn được nghe tiếng chim rừng huyền bí, mời gọi tìm trầm, đó là tiếng chim chuông – một loài chim ít người thấy mà chỉ nghe được tiếng kêu của nó. Người viết bài đã có lần được nghe tiếng chim chuông, đó là tiếng kêu xa vắng của một loài chim mà thoạt đầu mới nghe tưởng rất xa mà lại gần, rất gần rồi lại rất xa không thể nào định hướng được. Tiếng chim bắt đầu từ lúc nửa đêm cho đến gần sáng thì dứt. Tiếng vọng chim chuông đưa đường dẫn lối cho người đi điệu tìm trầm. Ở đâu có tiếng chim chuông là ở đó có trầm và có nhiều trầm. Nhiều người đi điệu lâu năm có kinh nghiệm nói rằng tiếng chim chuông chỉ xuất hiện vào dịp cuối mùa mưa, đầu mùa xuân hằng năm. Đó là những ngày nắng ráo, cây cối đâm chồi, nảy lộc, ong bướm sinh sôi, rừng thay lá mới. Ở cây dó bầu mùa này có một loài sâu ăn lá rất mạnh làm cho cây rụng lá, chết cây nếu không tiêu diệt được loại sâu này. Có phải con chim chuông chuyên ăn loài sâu này để bảo vệ rừng dó khỏi bị diệt vong của tự nhiên? Có phải đây là con chim thần bảo vệ cây dó bầu của xứ trầm hương thêm đậm đà hương sắc và quý giá? Có phải đó là một loài chim sâu quý hay loài chim nào khác, vì loài chim sâu thường đêm không đi tìm ăn sâu bọ, chỉ kiếm thức ăn ban ngày, phải chăng loài chim sâu này là loài đặc biệt, có đôi mắt xuất thần nhìn thấy sâu bọ vào ban đêm, loài chim chuyên bảo vệ cây dó bầu tránh khỏi nguy cơ tuyệt chủng của tự nhiên, và đó là một loài chim quý? Tất cả vẫn còn là bí ẩn([5]).

 

NVB
 


[1] Lê Quang Định, Hoàng Việt nhất thống dư địa chí, bản dịch của Phan Đăng, NXB Thuận Hóa – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2005.

[2] Theo Trần Vạn Giã, tạp chí Nha Trang, số 98-11/2003.

[3] Lê Quang Nghiêm, Những chuyện kể dân gian tại Khánh Hòa, sđd, trg.12.

[4] Theo Nguyễn Đình Tư, Non nước Khánh Hòa, Sông Lam xb, Sài Gòn, 1969, trg.79-80.

[5] Bùi Công Khánh, Tiếng vọng chim chuông,

 

Bài liên quan