QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

 

 

 

 

VỀ BÀI VĂN TẾ LỄ KỲ AN Ở ĐÌNH LÀNG KHÁNH HÒA

Khánh Hải

 

Thời phong kiến, việc tế tự luôn được chính quyền hết sức coi trọng; được xem như một phương thức hữu hiệu để dạy dân phải biết kính trọng Trời – Đất, Thánh - Thần, biết tuân theo lễ giáo và đó cũng chính là một kế sách trị dân. Vì vậy, hàng năm Triều đình đều tổ chức tế Trời Đất ở Đàn Nam Giao còn làng xóm cũng được quy định phải tế “sơn hà xã tắc” ở đình làng.

Ở nước ta, hầu hết các đình làng đều đã được vua ban sắc chuẩn y cho việc thờ tự một vị thần nào đó. Bộ Lễ triều Nguyễn cũng đã ban hành quy định cụ thể về nghi thức tế tự tại đình làng nhằm tạo nên sự thiêng liêng, thành kính, trong đó bài chúc văn (văn tế) được xem như linh hồn của cuộc lễ, vì nó là nguyện vọng của nhân dân gửi đến các bậc tôn thần để nhờ sự chở che, bảo vệ. Đến nay những nghi thức này vẫn còn được nhân dân giữ gìn, thực hành trong việc cúng bái tại đình làng.

Khảo sát nhiều bài văn tế ở Khánh Hòa, chúng ta có thể thấy bài văn tế bao giờ cũng được chia làm hai bộ phận như sau:

- Phần Nghi: Là phần nói về địa điểm, ngày tháng, thành phần Ban Tế lễ, và xướng danh các vị Thần được mời về tham dự cuộc tế lễ . Trong bài “Bàn về nguồn gốc tế lễ ở đình xưa” Nhà văn Sơn Nam viết: “…có nhiều vị thần có sắc phong hoặc không sắc phong nhưng lý lịch mơ hồ, ấy thế mà được thờ cúng”; “…nhiều sắc phong Bổn Cảnh Thành Hoàng là chức năng của vị thần, nhưng không ghi tên họ, thành tích lúc còn sống. Mà Thần không tên, chỉ có chức năng thì làm sao mà thỉnh về để cúng tế?” Cũng chính vì lẽ đó nên “tùy địa phương, còn mời thêm khách như thần Mộc Trụ, bà Chúa Xứ, thần Giếng nước, Nam Hải Tướng quân (thần Cá Ông) và quá nhiều vị thần khác, ông Quan Công được mời về cùng hưởng”. Điều đó giải thích vì sao danh sách các vị thần được xướng tên trong bài văn tế có khi lên đến bốn năm chục vị hoặc nhiều hơn nữa. Đối với bài văn tế lễ Kỳ an thì bao giờ cũng phải xướng danh “Thượng cổ Thần Nông Viêm Đế; Trung cổ Hậu Tắc Tôn Thần” đầu tiên, sau đó thì mới đến các vị thần khác và cuối cùng là “âm hồn, cô hồn đồng lai phối hưởng”.

- Phần Văn: Là nội dung chính của bài văn tế, được viết bằng chữ Hán theo lối văn biền ngẫu. Tùy theo mục đích và đối tượng tế tự mà nội dung các bài văn tế có khác nhau. Thông thường là ca ngợi công đức của vị Thần chủ và bày tỏ nguyện vọng của dân làng với các vị tôn thần.

Những năm vừa qua, do công việc đẩy đưa tôi có dịp tham dự nhiều cuộc tế lễ tại các đình làng trong tỉnh, được tiếp cận với nhiều bộ hồ sơ di tích của tỉnh và cũng qua đó nhận thấy các nghi thức tế lễ tại đình làng vẫn được bảo lưu khá tốt. Đặc biệt, trong lễ tế Kỳ an ở Khánh Hòa hầu như các nơi đều sử dụng chung một bài văn tế. Điều ấy nói lên rằng, bài văn tế này đã được phổ biến rộng rãi và có thể đã được chế định hóa ở thời các vua triều Nguyễn. Có điều, qua những thăng trầm dâu bể, bài văn tế ấy đã bị “tam sao thất bản”, nhiều câu chữ tối nghĩa, chỉ còn giống nhau ở những ý chính mà thôi. Đó cũng bởi nền Hán học ở nước ta đã sớm bị suy tàn từ những năm đầu thế kỷ 20, đến nay số người còn đọc hiểu được chữ Hán – Nôm ở ta còn quá ít; các nghi thức tế lễ cổ truyền và những bài văn tế còn giữ được đến nay chủ yếu qua đường truyền miệng từ thế hệ này qua thế hệ khác; thêm vào đó là sự tàn phá của chiến tranh, địch họa nên sự mai một là điều không sao tránh khỏi và dẫn đến tình trạng nhiều khi người đọc văn tế không hiểu ý nghĩa những gì mình đọc, nói chi đến người nghe…

Thế nhưng, “giấy rách phải giữ lấy lề” vẫn là quan niệm đã ăn sâu vào tâm khảm của nhiều người, nên việc “xưa bày nay làm” vẫn luôn được mọi người chấp nhận. Hơn nữa, tế tự cốt ở lòng thành, nên cũng ít ai để tâm vào nội dung của bài văn tế. Đã đành ở cõi tâm linh vốn dĩ “hữu cảm tư thông”, “thành tất hữu Thần”; vẫn biết sự mai một kia là chuyện bể dâu, nhưng không sao tránh khỏi chạnh lòng vì những gì cha ông xưa một thời trân trọng nay đã nhạt nhòa cùng năm tháng...

Từ suy nghĩ trên, những năm gần đây chúng tôi cũng đã để tâm sưu tầm, đối chiếu những bài văn tế của các đình làng trong tỉnh với mong muốn tìm lại hoặc hoàn nguyên lại bài văn tế gốc, nhất là bài văn tế lễ Kỳ an. Rất may, năm 2002 trong chuyến điền dã tại Ninh Hòa chúng tôi đã gặp được cụ Lê Nghị  – một Thầy Lễ am hiểu sâu sắc về Hán – Nôm và cả Quốc ngữ. Qua trao đổi và khi hiểu được mong muốn của tôi, cụ đã vui vẻ tặng cho tôi bài Chúc văn đọc tại lễ tế Kỳ an ở các đình làng do chính cụ viết tay trên giấy lễ. Sau nhiều năm khảo sát, đối chiếu và trao đổi với nhiều vị cao niên ở các Ban tế lễ trong tỉnh, có thể khẳng định các đình làng ở Khánh Hòa chỉ sử dụng chung một bài bài văn tế lễ Kỳ an, và tùy theo từng địa phương nội dung phần “Văn” có thể thay đổi ít nhiều cho phù hợp.

Năm 2008, nhân chuyến đi công tác tại Đồng Nai, chúng tôi lại may mắn được tiếp cận một số văn bản Hán – Nôm các bài văn tế ở vùng đất này và qua đó phát hiện ra nội dung nhiều bài có những đoạn rất giống với bản văn tế Kỳ an ở Khánh Hòa, tiêu biểu là bài văn tế Lễ Đàn cả của thôn Bình Kính, ấp Nhị Hòa, xã Hiệp Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai mà theo chúng tôi sự tương đồng ấy chắc không phải là sự ngẫu nhiên (!?) (1)

Sau đây là bài văn tế Kỳ an do cụ Lê Nghị đọc tại lễ Tế chánh trong Lễ hội cúng đình thôn Chấp Lễ, xã Ninh Thân, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa ngày 16 tháng 2 năm Nhâm Ngọ (2002). Phần nguyên văn chữ Hán, chúng tôi xin chỉ ghi lại toàn bộ phần “Văn” (nội dung) để bạn đọc tiện bề tham khảo; riêng phần “Nghi” xin phép được giản lược. Nay, xin giới thiệu và mạo muội tạm dịch bài chúc văn này, những mong góp được chút gì cho sự phục hồi một bài văn tế cổ. Nguyên văn chữ Hán phần “Văn” của bài văn tế như sau:

曰恭維;

尊神: 大者神, 妙者 化, 有 感 玆 通; 視 弗 見, 聽 弗 聞, 唯 誠 所 寓. 例 至 祈 安, 恭 陳 禮 數. 鑒 此, 洋 洋 在 上, 莫 測 機椷; 願 其, 濯 濯 厥 靈, 同 斯 保 護. 庇 國 祚 延 長, 皇 圖 鞏 固. 熙 熙 雨 順 風 調; 世 世 民 康 物 阜. 爵者 龍 墀 進秩, 官 祿 位 于 三 台. 士者 雁 塔 先 登, 留 芳 名 於 萬 世. 農 者 豐 登 和 穀, 絕 無 蟲 鼠 之 憂. 工 者 技 藝 精 通, 巧 達 彫 華 之 趣. 商 者 物 利 貨 豐, 又 得 財 源 積 聚.

斯因: 禮 例 祈 安, 以 張 歌 舞, 以 神 歡 民 樂; 得 享 太 平 之 世, 村 中 老 幼 安 居, 歡 藤 樂 土; 八 元 衍 慶, 萬 事增 隆.

仰賴! 靈 神 之 嘉 惠 也! 伏 惟 尚 享!

Phiên âm: (Phần chữ nghiêng tô đậm trong bản văn tế này là phiên âm nội dung chữ Hán trên).

Duy:

Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Tuế thứ Nhâm Ngọ niên, nhị nguyệt kiến Quý Mão, Tân Tỵ sóc, việt thập lục nhật Bính Thân lương thần.

Khánh Hòa tỉnh, Ninh Hòa huyện, Ninh Thân xã, Chấp Lễ thôn. Chánh tế: …; Bồi tế: …; Đông hiến: …; Tây hiến: …; Hương đăng: …; Cổ lệnh: …; Tả chinh: …; Hữu cổ: …; Lễ nhạc: …tịnh chính quyền thôn cập lão, nông, thanh, phụ, nam, nữ đại tiểu đẳng. Cẩn dĩ hoa quả, sinh tư, thanh chước, thứ phẩm chi nghi.

Cảm cáo vu:

Thượng cổ Thần Nông, Viêm Đế; Trung cổ Hậu Tắc Tôn Thần;

Đại Càn Quốc Gia Nam Hải tứ vị Thánh Nương;

Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi - Hồng nhân Phổ tế Linh ứng Thượng đẳng Thần;

Cao Các Đại Vương - Hồng mô Vi lược Đôn hậu Thanh linh Thuần đức Linh từ Hậu trạch Minh cảm Tôn Thần;

Đương cảnh Thành Hoàng Địa Vương - Quảng hậu Bảo an Chánh trực Hựu thiên Đông ngưng Dực bảo Trung hưng Tôn Thần;

Long Vương  - Dương dương Hiệp hóa Tôn Thần;

Hà Bá - Hồng ân Quảng trạch Tôn Thần;

Đương niên Tần Vương - Hành khiển Thiên hao Hành binh chi Thần;

Vương Tào - Phán quan Quỷ vương;

Thổ Địa Phúc Đức Chính Thần; Tứ Thời Ty Hỏa Táo Quân Tôn Thần;

Tiền trấn Biên doanh Tham đốc Tướng phù Quận công Lương Quý Phủ -Bảo quốc Hộ dân Thanh tiết Tôn Thần;

Tam vị Đàn Nương; Tứ đầu Gia lệnh;

Sơn, Xuyên, Nhạc, Độc chư vị linh thần;

Thượng, Trung, Hạ liệt vị Dương Thần; Thượng, Trung, Hạ liệt vị Âm Thần;

Đông Hiến chi Thần; Tây Hiến chi Thần;

Tả Ban liệt vị Tôn Thần; Hữu Ban liệt vị Tôn Thần;

Tả miếu Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ Tôn Thần;

Hữu miếu Sơn Quân Chúa Tướng Lý Nhĩ Tôn Thần;

A Vu, Chúa Viên chi Thần.

Kỵ

Tiên Sư, Thổ Công, Thổ Kỳ, Thổ Chúa, Long Thần;

Tiền Hiền khai khẩn, Hậu Hiền khai khẩn Tôn Thần;

Chúa Ngung, Man Nương, Trú Trạch; Bản thôn Phúc Thần, Lý Thần, Tài Thần, Điền Phu, Điền Phụ chư vị linh Thần;

Ngũ phương Chiến sĩ trận vong; Mục Đồng, Mục Tượng; Hữu danh vô vị, hữu vị vô danh âm hồn, cô hồn đồng lai phối hưởng.

“Viết cung duy:

Tôn thần: Đại giả thần, diệu giả hóa, hữu cảm tư thông; thị phất kiến, thính phất văn, duy thành sở ngụ. Lệ chí kỳ an, cung trần lễ số. Giám thử, dương dương tại thượng, mạc trắc cơ hàm; nguyện kỳ, trạc trạc quyết linh, đồng tư bảo hộ. Quốc tộ diên trường, Hoàng đồ củng cố;  Hy hy vũ thuận phong điều, thế thế dân khang vật phụ.

Tước giả Long trì tiến trật, quan lộc vị vu Tam thai. Sĩ giả Nhạn Tháp tiên đăng, lưu phương danh ư  vạn cổ. Nông giả phong đăng hòa cốc, tuyệt vô trùng thử chi ưu. Công giả kỹ nghệ tinh thông, xảo đạt điêu hoa chi thú. Thương giả lợi vật hóa phong, hựu đắc tài nguyên tích tụ.

Tư nhân: Lễ lệ kỳ an, dĩ trương ca vũ, dĩ Thần hoan dân lạc; đắc hưởng thái bình chi thế, thôn trung lão ấu an cư, hoan đằng lạc thổ; bát nguyên diễn khánh, vạn sự tăng long!

 Ngưỡng lại! Tôn Thần chi gia huệ dã! Phục duy thượng hưởng!

Tạm dịch: (Chỉ dịch nghĩa đoạn đầu của phần Nghi và phần Văn. Riêng đoạn ghi tên các vị thần xin được giữ nguyên như phần phiên âm).

Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Năm Nhâm Ngọ (2002), tháng Quý Mão (tháng 2), ngày sóc (mùng 1) là ngày Tân Tỵ, đến nay là ngày 16 – tức ngày Bính Thân gặp giờ tốt.

Hôm nay, tại thôn Chấp Lễ, xã Ninh Thân, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Chánh tế:…; Bồi tế:…; Đông hiến:…i; Tây hiến:…; Hương đăng:…; Cổ lệnh:…; Tả chinh:…; Hữu cổ:…; Lễ nhạc:…cùng với chính quyền thôn và các giới lão nông, thanh niên, phụ nữ, nam nữ, lớn bé trong làng kính cẩn dâng lễ vật gồm: Sinh tư, hương hoa, trà rượu, nước trong và các vật phẩm khác.

Kính cáo cùng:

“Thượng cổ Thần Nông, Viêm Đế; Trung cổ Hậu Tắc Tôn Thần…

… cô hồn đồng lai phối hưởng”.

 

“Trộm nghĩ rằng:

Tôn thần là đấng:

Quảng đại thần thông, diệu kỳ biến hóa, ai người có cảm ắt thông;

Nhìn không thể thấy, lắng chẳng thể nghe, tâm thành là nơi chốn ở.

Nay đáo lệ kỳ an, chúng con sắm sanh lễ vật.

Kính xin: Lồng lộng trên cao soi xét, dám đâu lấp liếm, dấu che;

Nguyện cùng: Linh thiêng rạng rỡ chứng tri, ra tay đỡ nâng, bảo hộ;

Cho Đất nước trường tồn, Núi sông bền vững;

Yên vui mưa thuận gió hòa, đời đời dân khang vật phụ.

Người làm quan bệ rồng thăng chức, thênh thang hoạn lộ  đến Tam thai.

Kẻ sĩ sớm bước lên Nhạn Tháp, danh thơm lưu truyền mãi muôn đời.

Người canh nông thóc lúa bời bời, không lo cảnh sâu vầy, chuột phá.

Người công nhân tinh thông kỹ nghệ, mang tài hoa trau chuốt cho đời.

Người bán buôn hàng hóa dồi dào, lại được cả tài nguyên tích tụ.

Nay nhân, tế lễ kỳ an, mở hội hát ca một cuộc.                                 

Trước là hoan hĩ Tôn Thần, sau để con dân vui vẻ;

Chung hưởng cuộc sống thái bình,

Xóm thôn già trẻ an cư, cỏ cây mừng vui dậy đất;

Cho tám hướng thảy hân hoan, muôn điều thêm may mắn!

Ngưỡng mong, linh thần ban cho ân huệ!

Cúi đầu tưởng niệm, kính dâng!”

 

Chú thích:

(1) Phần phiên âm nội dung sau đây theo chúng tôi có nhiều điểm tương đồng với bài văn tế Kỳ an ở  Khánh Hòa: “…Tước giả long trì tiến trật; Quan giả lộc vị vu Tam Thai; Sĩ giả Nhạn tháp đề danh, lưu phương ư vạn cổ; Nông giả phong doanh hòa cốc, tuyệt vô trùng thử chi ưu; công giả kỹ nghệ tinh thông, xảo đạt điêu hoa chi thú. Thị thượng chi thương nhân tranh tập, lợi ích hóa nguyên. Thôn trung lão ấu an cư, hoan đằng lạc thổ. Nguyện kỳ hâm hưởng, sắc thử gia tường. Phục duy thượng hưởng.”  Nguyên văn: 秩、官 祿 台、士 名、流 古、農 盈 禾 穀, 憂、工 通、巧 趣。市 集、利 源。村 居、歡 土。願 其歆 享、敕 祥。伏 饗”