QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

 

 

 

 

 

Thơ xưa viết về Khánh Hoà

Nguyễn Man Nhiên

 

 

Nếu như Khánh Hoà có một trữ lượng văn hoá dân gian khá phong phú và đa dạng như đã từng được phát hiện và công bố thì tư liệu văn học thành văn thời kỳ trước năm 1930 của vùng đất này lại rất hiếm hoi và hoàn toàn vắng bóng trong các bộ hợp tuyển và lịch sử văn học. Tuy vậy, đặc thù của một tỉnh duyên hải với cảnh quan thiên nhiên non nước thơ mộng, hữu tình đã khiến cho các tác giả - đa số là các nhà Nho hoặc các quan lại - dù là người địa phương hay ở nơi khác đến làm việc, đều không khỏi rung động viết nên những tác phẩm ngợi ca vẻ đẹp của con người và vùng đất này. Tuy số lượng sưu tầm còn quá ít ỏi, những bài thơ giới thiệu dưới đây đều có thể xem là của hiếm, rất đáng trân trọng và gìn giữ.

 

ĐẶNG VĂN HOÀ  (1791 - 1856)

 

Tự Lễ Trai, người làng Thanh Lương, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Đỗ cử nhân năm Gia Long thứ 12 (1813), ra làm quan rất sớm, là một vị đại thần nhiều công trạng của triều Nguyễn. Ông đã từng giữ chức Thưọng thư 5 bộ của triều đình, làm Tổng Đốc nhiều tỉnh quan trọng trong Nam ngoài Bắc, phụ trách Viện Hàn Lâm, làm Tổng tài Quốc Sử quán, chủ biên bộ “Đại Nam Hội Điển Sự Lệ”, dạy học cho vua Tự Đức, tham gia Viện Cơ mật dưới các triều Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức.

 

QUÁ KHÁNH HOÀ 

 

Hải tự đới hề sơn tự khâm

Khánh Hoà cảnh sắc cổ như kim

Thôn cư đoạn tục đa không xứ

Lâm lộc tì liên tận giới tâm

Mã lĩnh(1) Tượng nham(2) phi thậm hiểm

Chư đề hổ tích mỗi tương tầm

Phong khinh mai dịch hành trần tĩnh

Tận bả phong quang phổ nhất ngâm.

 

Dịch thơ:

 

QUA KHÁNH HOÀ 

Biển tựa đai lưng núi vạt dài

Khánh Hoà cảnh sắc trước như nay

Xóm thôn đứt nối sao hoang vắng

Rừng rú giăng liền đáng ngại thay

Núi Ngựa đèo Voi chưa hiểm lắm

Móng heo vết hổ thoáng đâu đây

Trạm mai gió nhẹ đương im bụi

Thu cả phong quang vịnh khúc này.

 

(1)Mã lĩnh: đèo Cổ Mã ; (2)Tượng Nham: núi Rọ Tượng (các địa danh ở Bắc Khánh Hoà).

 

TRƯƠNG ĐĂNG QUẾ (1794 -1865)

 

Tự Diên Phương, hiệu Đoan Trai, còn có hiệu là Quảng Khê, người huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Ông đỗ cử nhân khoa Kỷ Mão (1819). Cuộc đời làm quan nổi tiếng của ông trải suốt 3 triều vua: Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, luôn được giữ những trọng trách lớn trong triều đình. Ông từng làm Tổng tài biên soạn bộ quốc sử “Đại Nam thực lục”. Tác phẩm có “Trương Quảng Khê tiên sinh tập” khắc in năm Tự Đức thứ 10 (1857). Trong lời tựa ở đầu sách, nhà thơ Tùng Thiện vương Miên Thẩm đã sánh tác phẩm này với vẻ đẹp của “viên ngọc châu điểm dưới cổ con lân, con rồng”, còn Phan Thanh Giản thì nhận xét ”đọc mãi không biết mỏi mệt”!

 

CÙ HUÂN VÃN BẠC

 

Dương phàm nhất lộ quá kỳ xuyên

Trực sử Cù Huân(1) tiểu hạm thuyền

Trấn lãng hải trung tam đảo thạch

Kết mao sơn hạ kỷ thôn yên

Doanh sinh tác nghiệp kiêm tiều điếu

Hạo thuỷ y sa liệt thị yêm

Mãi đắc tân phôi hô chúng ẩm

Khai nhiên cộng tuý tịch dương tiền.

 

Dịch thơ:

 

CHIỀU ĐẬU THUYỀN BẾN CÙ HUÂN

 

Buồm căng phơi phới nẻo kỳ xuyên

Thẳng tới Cù Huân một mảnh thuyền

Đè lớp sóng xô hòn núi dựng

Mờ chân non thẳm khói thôn lên

Đốn củi giăng câu nghề đổi vặt

Cát bồi sóng táp chợ xoay phiên

Rượu mới vừa mua kêu bạn uống

Hoàng hôn đang xuống hãy say mèm.

 

(1)Cù Huân: cửa biển Nha Trang

 

NGUYỄN TƯ GIẢN (1823 - 1890)

 

Tự Tuân Thúc, hiệu Vân Lộc và Thạch Nông. Đỗ tiến sĩ, làm quan ở Nội các, có đi sứ Trung Quốc. Ông nổi tiếng hay thơ.

 

TỐNG TỶ BỘ NGUYỄN HY PHẦN(1) DỰ CÁO QUY KHÁNH HOÀ

 

Thư kiếm quy triều mấn vị ban

Bệnh trung hương tĩnh vạn trùng san

Tâm đồng Thân Tử y tường khốc

Thân tự Tương Như bổng bích hoàn

Đại Lĩnh văn viên cô nguyệt hạ

Nha Trang xạ hổ loạn vân gian

Khả kham cực mục nam phi nhạn

Chính thị Hoàng hoa bắc xuất quan.

 

Dịch nghĩa:

 

THƠ TIỄN ÔNG HY PHẦN Ở BỘ HÌNH

CÁO QUAN TRỞ VỀ KHÁNH HOÀ

 

Ôm sách cắp gươm về triều khi mái tóc chưa bạc

Trong lúc ốm nhớ cảnh quê hương cách xa muôn dãy núi

Lòng không khác Thân Bao Tư dựa tường mà khóc

Thân cũng giống Lạn Tương Như mang ngọc trở về

Đi qua núi Đại Lãnh nghe vượn kêu dưới ánh trăng lạnh

Ở đất Nha Trang bắn cọp trong đám mây lồng

Khốn nỗi đương khi con nhạn bay về phương Nam xa tít

Thì cũng chính đó là lúc ta hát thiên Hoàng Hoa đi ra ải Bắc.

 

(1)Hy Phần: tên chữ của Nguyễn Thông, bạn thân của tác giả.

 

NGUYỄN XUÂN ÔN (1825 – 1889)

 

Hiệu là Ngọc Đường. Tuổi trẻ đã có chí, tư chất thông minh nhưng lận đận vòng trường ốc, mãi 45 tuổi mới đỗ tiến sĩ. Làm Tri phủ Quảng Ninh (Quảng Bình), đốc học Bình Định rồi Án sát Bình Thuận. Vốn người cương trực, yêu nước, có tinh thần chủ chiến, phản đối chính sách hoà nghị của triều đình, nên sau bị cách chức. Năm 1885, hưởng ứng chiếu Cần Vương, ông mộ quân chống Pháp tại quê nhà. Bị giặc bắt, đưa về giam lỏng ở Huế, sau lâm bệnh nặng rồi chết ở đó.

 

QUÁ KHÁNH HOÀ ĐIỂN NÔNG DINH CHI TÁC

 

Trượng nguyên đồn thượng trước luân cân

Khả thị Long Trung bỉnh trĩ nhân

Cố lý cúc tùng tam kính cổ

Tan dư hoà mạch nhất lê xuân

Tu tri ngưu độc năng thành ấp

Hưu tín sài lang khả tác lân

Tích nhật chẩm qua nhân dĩ lão

Thử gian không hữu bách khuân trần.

 

Dịch thơ:

 

LÀM KHI QUA DINH ĐIỂN NÔNG Ở KHÁNH HOÀ

 

Ngưòi quấn khăn xanh trên Ngũ Trượng

Phải người cày ruộng đất Long Trung

Cúc tùng quê cũ rày trơ luống

Ngô lúa đồi hoang đã rợp đồng

Trâu nghé góp nên thôn ấp đẹp

Sói lang đừng để láng giềng chung

Xưa người gối giáo nay già hết

Chỉ thấy còn đây trăm đụn không.

 

NGUYỄN THÔNG (1827 - 1884)

 

Tự là Hy Phần, hiệu Kỳ Xuyên, biệt hiệu Độn Am. Đỗ cử nhân, làm việc ở Nội các. Khi Pháp đánh Gia Định, ông tình nguyên tòng quân về Namchiến đấu. Sau khi 6 tỉnh Nam Kỳ bị mất, ông lánh ra Bình Thuận, rồi làm Án sát Khánh Hòa, về Kinh làm Biện lý bộ Hình, sau làm Bố chánh Quảng Ngãi. Trong thời gian làm quan, ông có nhiều đóng góp về kinh tế (khai hoang, thuỷ lợi, trồng trọt). Sự nghiệp trước tác của ông rất phong phú, bao gồm nhiều tác phẩm văn học và học thuật.

 

KHÁNH HOÀ ĐẠO TRUNG

 

Đồng trụ tồi tàn thập lục triều

Thiên Y(1) cổ tháp ỷ tằng tiêu

Sơn bàn hương thụ chung kỳ khí

Hải phách huyền nham tiết nộ triều

Nhất lộ tùng hoàng kiêu hổ báo

Sổ gia yên hoả tập ngư tiều

Chiêm Hoàn di tích không hồi thủ

Vân lý thê điền trạc thử miêu.

 

Dịch thơ:

 

GIỮA ĐƯỜNG QUA TỈNH KHÁNH HOÀ

Cột đồng đổ nát chuyện xưa rồi

Tháp cổ Thiên Y đứng chọc trời

Rải khắp kỳ nam hương lạ đọng

Chém phang vách đá nước triều xuôi

Tung hoành hổ báo tre đầy nẻo

Xen kẽ ngư tiều khói mấy hơi

Dấu cũ vua Hời nhìn ngoảnh lại

Ruộng thang mạ nếp cắm nơi nơi.

 

(1)Thiên Y: tức Thiên Y A Na Thánh mẫu, cách người Việt gọi nữ thần Pô Na-ga của người Chăm, từ bao đời nay được cả người Chăm lẫn người Việt thờ tại Tháp Bà trên núi Cù Lao bên cửa sông Cái Nha Trang

 

TRƯƠNG GIA MÔ (1866 - 1929)

Tự Sư Thánh, hiệu Cúc Nông, biệt hiệu là Hoài Huyền Tử, quê ở Bình Dương, Gia Định. Ông trải qua thời niên thiếu ở Bình Thuận khi thân phụ nhậm chức Tuần phủ Thuận Khánh. Năm 1892 ông được bổ dụng làm Thừa phái bộ Công. Sau đó ít lâu ông từ quan, cùng bạn là Nguyễn Lộ Trạch về Nam tính chuyện xuất dương nhưng việc không thành. Những chí sĩ yêu nước như Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp từng vào Bình Thuận tiếp xúc với ông. Năm 1908 ông bị giặc bắt giam một thời gian ngắn ở ngục Khánh Hoà vì tham gia phong trào kháng thuế ở Trung kỳ. Từ năm 1910, ông vào Nam ở luôn cho đến cuối đời, liên lạc hoạt động với nhiều nhân sĩ yêu nước. Cuối năm 1929, do những bế tắc cùng cực trong tư tưởng, ông đã lên núi Sam (Châu Đốc) gieo mình tự vẫn.

 

TOẠ HỆ KHÁNH HOÀ THU DẠ LỮ

LƯƠNG THÚC KỲ TIỂU ẨM KHẨU CHIẾM

 

Cô thành sơn sắc tứ chu vi

Cổ thác thanh thanh cánh lậu trì

Kỷ nguyệt câu tù dư hạnh phúc

Bán sinh tư tưởng khởi hy kỳ

Nhiệt trường giới tưủ kim nhưng tuý

Đoản mấn phùng thu mộng diệc bi

Mạn hướng giai tiền chiêu tố nguyệt

Viễn thiên nan vấn lập đa thì.

 

Dịch thơ:

 

ĐÊM THU NGỒI TÙ KHÁNH HOÀ, NHẮM RƯỢU CÙNG

LƯƠNG THÚC KỲ, NHÂN ĐÓ LÀM NHẨM BÀI THƠ NÀY

 

Thành côi sắc núi tứ chu vi

Tiếng trống sang canh phút kéo trì

Mấy tháng ngồi tù dư hạnh phúc

Nửa đời nghĩ lại cũng là kỳ

Nóng lòng kiêng rượu nay còn uống

Mai ngắn gặp thu mộng lại bi

Ngó khắp sân thềm vời bóng nguyệt

Trời cao khó hỏi ngó như si.

 

HUỲNH THÚC KHÁNG (1857-1947)

 

Hiệu Minh Viên, người tỉnh Quảng Nam. Là một trong những nhân vật chủ đạo của phong trào Duy Tân ở Trung Kỳ, bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo 13 năm. Cách Mạng tháng Tám (1945) thành công, ông được cử làm Bộ trưởng Bộ Nội Vụ rồi quyền Chủ tịch Chính phủ trong thời gian Hồ Chủ tịch sang Pháp. Ngoài thơ văn đăng trên báo Tiếng Dân do ông chủ trương, ông còn tác phẩm “Thi tù tùng thoại”.

 

ĐIẾU TRẦN QUÝ CÁP

Thư kiếm tiêu nhiên độc xuất môn

Nhất quan thác lại vị thân tồn

Trực tương tân học khai nô luỹ

Thuỳ tín dân quyền chủng hoạ côn

Bồng Đảo xuân phong huyền viễn mộng

Nha Trang thu thảo khấp anh hồn

Khả liên nhất biệt thành thiên cổ

Đà Nẵng phân khâm tửu thượng ôn.

 

Dịch thơ:

 

VIẾNG TRẦN QUÝ CÁP

 

Gươm sách xăm xăm tách dặm miền

Làm quan vì mẹ há vì tiền

Quyết đem học mới thay nô lệ

Ai biết quyền dân nảy hoạ nguyên

Bồng đảo gió chưa đưa giấc mộng

Nha Trang cỏ đã khóc hồn thiêng

Chia tay chén rượu còn đang nóng

Đà Nẵng đưa nhau lúc xuống thuyền.

 

(sưu tầm - giới thiệu)

 

THƯ MỤC THAM KHẢO:

 

-  Phạm Tuấn Khánh, Thơ của Lễ Trai Đặng Văn Hòa, Tạp chí Nha Trang số 32/1995.

- Trương Đăng Quế, Trương Quảng Khê tiên sinh tập.

- Thơ văn yêu nước Nam bộ nửa sau thế kỷ XIX, NXB Văn Học Giải Phóng 1976.

- Ca Văn Thỉnh - Bảo Định Giang, Nguyễn Thông, con người và tác phẩm, NXB TP Hồ Chí Minh 1984.

-  Huỳnh Thúc Kháng, Thi tù tùng thoại.

-  Nguyễn Nam, Cụ nghè Trương Gia Mô, NXB Tổng hợp An Giang 1989.

 

Bài liên quan