QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

Bài cùng tác giả

- Tản mạn tên gọi của một vài xứ đạo ở Khánh Hòa (kỳ 1)

- Lịch sử chùa Tổ Đình Thiên Phước, thôn Phú nghĩa, xã Ninh Đông, TX Ninh Hòa

- Bỏ "Tiên học lễ" thì đạo đức xã hội sẽ ra sao?

- Những vấn đề liên quan đến đình Mỹ Hiệp, Ninh Hòa

- Câu nói : "Quân sử thần tử...Phụ sử tử vong..." là của Nho gia hay Pháp gia?

- Đôi điều tản mạn về nghi thức cúng đình - miếu ở vùng đất Diên Khánh - Khánh Hòa

- Đại Nam Thực Lục viết về cái chết của Trung thư Phụng chính Trần Văn kỷ

- Chiến thuật hạ thành Ngọc Hồi của quân Tây Sơn

- Vài nét về lịch sử, địa lý khu vực suối Hoa Lan Ninh Hòa

- Văn miếu Diên Khánh là văn miếu cấp tỉnh hay cấp huyện?

- Văn miếu Khánh Hòa

- Cụ Đỗ Thúc Tĩnh, một vị quan có tiếng - CẦN - CÁN - CÔNG - LIÊM, được vua, quan, dân tín nhiệm và ái mộ

- Chuyện liên quan đến các quan lại ở tỉnh Khánh Hòa vào những thập niên cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20

- Tên các tổng, xã, thôn, ấp, hộ của tỉnh Khánh Hòa thời vua Đồng Khánh

- Mả ông Tướng

- Kiến trúc thành Diên Khánh và cách trùng tu tôn tạo hiện nay

- Võ Tánh có được cải theo họ chúa Nguyễn không?

 

 

 

 

 

TẢN MẠN TÊN GỌI CỦA MỘT VÀI XỨ ĐẠO Ở KHÁNH HÒA

Kỳ 2

Nhà thờ Núi NHa Trang

Giáo xứ Cây Vông (Diên Sơn- Diên Khánh)

Nhiều người khi chưa đặt chân đến giáo xứ Cây Vông thường hình dung ở giáo xứ Cây Vông có rất nhiều cây vông nhưng khi đến thì chẳng thấy cây vông nào cả! Vâng, ngày xưa vùng đất này lắm cây vông. Phía đông của giáo xứ Cây Vông có một vùng đất tục danh là Vườn Vông và nay con đường đi qua vùng đất ấy được gắn biển tên là đường Gò Cây Vông. Vông có hai loại: vông nem (ngày xưa hay dùng đậy ú mắm nêm cho khỏi sinh giòi, nay dùng lá cho thỏ ăn) và vông đồng (vông đồng gai to và nhiều hơn vông nem thường mọc ở ven sông ,ven bàu nước và hoa vông đồng đỏ tươi nên dân gian hay nói : “đỏ như bông dông [vông]”).

Trước năm 1975 mỗi làng ở Diên Khánh có một tên riêng dành cho người chết.Ví dụ làng Đại Điền Tây có tên là Hoành Sơn, do phía tây của làng có dãy núi Hòn Ngang; làng Đại Điền Nam và Đại Điền Trung  có tên là Qua Sơn, do gắn liền với sự tích bà Thiên Y A Na với sự tích Núi Dưa; làng Đại Điền Đông có tên Đông Khê, do phía đông làng có một khe nước lớn từ núi chảy ra. Riêng làng của tôi là làng Phú Lộc giáp ranh với làng Đại Điền Tây nơi có nhà thờ Cây Vông, có tên là Đồng Xuyên, do có nhiều cây vông mọc bên bờ sông.Cái tên Đồng Xuyên được  dùng để viết vào tờ minh tinh (có nơi phát âm là “minh sinh”). Khi quan tài được hạ xuống huyệt xong xuôi thì có hai người giăng dọc tờ minh tinh màu đỏ viết chữ Hán trên huyệt. Thầy lễ đọc ba lần, sau mỗi lần đọc thì hai người cầm hai đầu tờ minh tinh úp lại rồi lật ngửa lên để thầy lễ đọc lần thứ hai. Tờ minh tinh là tờ giấy thông hành cho người chết sang bên kia thế giới. Trên tờ minh tinh ghi quê quán, tên tuổi, chức tước của người chết. Tờ minh tinh của làng tôi mở đầu : “Việt Nam Đồng Xuyên  Thượng ấp…” ấy vậy mà dưới âm phủ biết là người chết ấy là dân ở ấp Thượng, làng Phú Lộc, mà chẳng cần phải đọc “Việt Nam quốc, Khánh Hòa tỉnh, Diên Khánh quận, Phú Lộc xã, Thượng ấp…” gì cả! Sau khi đọc xong, người ta đem tờ minh tinh ấy “hóa” (đốt) đi để cho dưới âm phủ nhận.

Người dân bên lương hay cải tên địa danh Cây Vông thành Hoa Vông. Ngay cả thống kê năm 1843 của Hội Thừa sai Ba Lê cũng ghi là Hoa Vông: Tỉnh Khánh Hòa có 11 họ đạo: Bình Cang (212 giáo dân), Hoa Vông (147 giáo dân), Hà Dừa (328 giáo dân), Mà Gai (51 giáo dân), Đồng Dài (37 giáo dân), Lâm Toàn (201 giáo dân), Xóm Cồn (67 giáo dân), Cầu Kè (45 giáo dân), Dinh Bình Hòa (207 giáo dân), Quán Đồng Nai (35 giáo dân) .Cộng 1498 giáo dân (Nguyễn Đình Đầu,Kỷ niệm 350 năm Địa phận địa danh tỉnh Khánh Hòa với Giáo phận Nha Trang.Đăng trên tuần báo Công giáo & Dân tộc số 1370 Tuần lễ từ 16/08= 21/08/2002, trang 25)

Tại Phú Yên trước đây có giáo xứ Hoa Vông rất là đông giáo dân, sau này do mất an ninh nên sinh hoạt của giáo xứ chuyển dần vào địa điểm mới là Tuy Hòa và tên giáo xứ Hoa Vông bị xóa sổ. Hiện nay tại thôn Chánh Nghĩa, xã An Phú, huyện Tuy An vẫn còn nền nhà thờ Hoa Vông. Ở Bình Định trên đoạn đường từ Quảng Nghiệp đi về Gò Bồi có giáo xứ Vườn Vông.

Trước nhà thờ Cây Vông nên trồng hai đầu sân hai cây vông (một cây vông nem và một cây vông đồng để kỷ niệm và để thế hệ trẻ có dịp học hỏi quan sát tường tận về cây vông).

Bắt đầu trong năm 2014, chính quyền kêu gọi “ Xây dựng nông thôn mới”. Để xây dựng nông thôn mới cần phải có 18 hoặc 19 tiêu chí gì đó, trong đó có tiêu chí là đường, ngõ có tên, nhà có số. Xã Diên Sơn cũng đang phấn đấu trở thành xã xây dựng nông thôn mới, cho nên con đường chạy ngang trước mặt nhà thờ dài khoảng 1,5 km được gắn tên là đường Cây Vông.

Giáo xứ Đồng Dưa  - Đại Điền (Diên Phú- Diên Khánh)

Những người bên lương ở vùng đất Diên Khánh họ không gọi Nhà thờ Đại Điền mà gọi bằng Nhà thờ Đồng Dưa. Trước đây giáo xứ Đại Điền thuộc hạt Diên Khánh có tên là Đồng Dưa. Đồng Dưa là gọi theo cách nôm na. Gọi theo âm Hán Việt là Qua Điền (Ruộng Dưa, Đồng Dưa). Địa danh Đồng Dưa đã có từ xa xưa, có liên quan đến truyền thuyết bà Thiên Y A Na trên núi Đại An (dãy núi sau lưng nhà thờ Cây Vông và nhà thờ Đại Điền). Những giấy tờ đất đai bằng chữ Hán của dân chúng trong khu vực chung quanh nhà thờ Đại Điền đều ghi “Đồng Dưa xứ”.

Các làng Đại Điền Đông, Đại Điền Trung (xã Diên Điền) và Đại Điền Nam, Đại Điền Tây (xã Diên Sơn) dưới thời vua Gia Long , Minh Mạng, Thiệu Trị cùng chung một xã là xã Đại An (cho nên dãy núi phía bắc của hai xã Diên Điền và Diên Sơn gọi là dãy Đại An). Khoảng sau năm 1860 mới đổi tên từ Đại An xã thành Đại Điền xã (Bia đá khắc năm 1858 dựng tại sân Văn miếu Diên Khánh vẫn còn tên Đại An xã). Vào thời vua Thành Thái (1889-1906) mới phân chia xã Đại Điền thành tứ thôn: Đại Điền Đông, Đại Điền Trung, Đại Điền Nam, Đại Điền Tây.

Địa danh Đại Điền mới có khoảng trên 150 năm, còn địa danh Đồng Dưa xứ đã có từ rất xa xưa và gắn liền với truyền thuyết bà Thiên Y A Na.

Giáo xứ Lâm Tuyền- Chợ Mới (Vĩnh Ngọc- Nha Trang)

Giáo xứ Chợ Mới ngày xưa có tên là giáo xứ Lâm Tuyền, có tài liệu ghi là giáo xứ Làm Thuyền và chú thích là khu vực này có xóm đóng thuyền bè. Làm Thuyền có thể là “tam sao thất bổn” của Lâm Tuyền. Lâm Tuyền lại là cách gọi trại của Lâm Toản. Địa bạ Gia Long năm 1811 ghi là Lâm Toản thôn. Thôn Lâm Toản gồm có xứ Gò Gốm, Gò Dê, Gò Gạch, Cây Me, Biên Sơn. Như vậy vùng đất Gò Dê (giáo xứ Ngọc Thủy) trước đây thuộc thôn Lâm Toản. Chữ “Toản” còn có thể đọc là “ Toàn” . Trong Nho giáo có câu tán dương Khổng tử : “Ngưỡng chi di cao, toản chi di kiên”  và cũng có sách phiên âm là “Toàn chi di kiên”. Lâm Toản và Lâm Toàn y như nhau chỉ khác cách phát âm một tí. Và chữ “Toàn” có thể đọc là “Tuyền”. Sách Khổng học đăng do cụ Phan Bội Châu soạn khi gặp chữ “toàn” cụ viết là “tuyền”.Một trong những tiêu chí chọn con vật để tế thần thánh là con vật phải toàn sắc (một sắc lông) còn gọi là “tuyền sắc”. Từ Lâm Toản đọc thành Lâm Toàn rồi lại Lâm Tuyền. Theo thống kê năm 1843 của Hội Thừa sai Ba Lê thì giáo xứ Lâm Toàn có 201 giáo dân. Thôn Lâm Toản sau đổi thành Ngọc Toản rồi đổi thành Ngọc Hội.

Địa danh Chợ Mới mới có khoảng hơn 150 năm mà thôi. Năm 1843 vẫn còn tên giáo xứ Lâm Toàn. Theo như văn bia bằng chữ Hán khắc năm 1860 dựng tại miếu Tiền hiền làng Ngọc Hội cho biết là bà Nguyễn Thị Hiếu đã tự bỏ tiền của xây cầu xây chợ trong thôn Ngọc Toản. Do vậy địa danh Chợ Mới xuất hiện sau năm 1860.

Giáo xứ Ngọc Thủy- Gò Dê ( Ngọc Hiệp- Nha Trang)

Đứng trên cầu Bóng, cầu Hà Ra nhìn về hướng tây hoặc từ cầu Sắt xe lửa vượt sông Cái nhìn về hướng đông ta sẽ thấy thấy tháp chuông của một nhà thờ trỗi vượt giữa rừng dừa xanh tươi được bao bọc bởi bốn bề sông nước, đó là tháp chuông của nhà thờ Ngọc Thủy. Hiện nay Giáo xứ Ngọc Thủy nằm trên địa bàn tổ dân phố 13 và 14 khóm Ngọc Thảo, phường Ngọc Hiệp, Thành phố Nha Trang. Trước đây giáo xứ Ngọc Thủy có tên là Gò Dê. Gò Dê là vùng đất lâu đời , năm 1811 đã có tên trong địa bạ Gia Long và khi ấy thuộc thôn Lâm Toản . Vùng đất Gò Dê được bao bọc bởi các chi lưu của dòng sông Nha Trang. Cách nay khoảng ba thập kỷ vùng đất Gò Dê là vùng đất  100% dân theo đạo Công giáo.

Tại sao vùng đất có tục danh Gò Dê? Có người cho rằng ngày xưa ở vùng đất này nuôi nhiều dê nên mới có tên như vậy!

Sự thực không phải như vậy. Theo Kỷ yếu Địa phận Nha Trang 1971 trang 53 thì khi xưa tại vùng đất Gò Dê mọc nhiều cây nhãn phân dê (cứt dê), tên khoa học là Nephelii species, là một loại nhãn rừng, quả nhãn rừng có vị ngọt chát và ăn được, khi trái chín và rụng xuống đất có màu đen tuyền giống như phân con dê. Ngày nay đến vùng đất Gò Dê sẽ không còn gặp cây nhãn cứt dê nữa mà bắt gặp toàn là dừa. Năm 1967 giáo xứ Gò Dê được đổi tên thành Ngọc Thủy.

Giáo họ Vĩnh Hòa – Phường Dầu (Cam Hải Tây- Cam Lâm)

Trước năm 1975, mẹ tôi thường buôn bán ở vùng Cam Hòa, Cam Hải, Cam Đức, Cam Thành và mẹ tôi gọi vùng đất xã Cam Hải Tây hiện nay bằng cái tên Phường Dầu. Sau năm 1975 tôi không hề nghe cái tên Phường Dầu nữa. Đầu tháng 8/2015 tôi đọc trang web Giáo phận Nha Trang mới biết vào lúc 8h15’ ngày 30/07/2015 Giám mục Giu se Võ Đức Minh đến giáo họ Vĩnh Hòa chủ sự lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng nhà thờ Vĩnh Hòa. Trong bài viết cho biết trước năm 1960 Vĩnh Hòa được gọi là Phường Dầu. Lúc đầu giáo họ Vĩnh Hòa thuộc giáo xứ Tân Bình, sau đó được nhập vào giáo xứ Bắc Vĩnh. Đầu tháng giêng năm 1972 bắt đầu xây nhà nguyện, đến tháng 5 năm 1972 thì hoàn tất và linh mục Phê rô Nguyễn Đăng Khoa – quản xứ Bắc Vĩnh- đặt tên cho giáo họ lẻ là Vĩnh Hòa (Vĩnh là giáo xứ Bắc Vĩnh, Hòa là  dân ở xã Suối Hòa).

Địa danh Phường Dầu đã có trước năm 1811. Theo Địa bạ Gia Long năm 1811 Phường Dầu phụ lũy thôn thuộc tổng Hạ, huyện Vĩnh Xương. Phường Dầu phụ lũy thôn gồm các xứ An Du, Cây Ké, An Phụ. Đông, Tây, Nam, Bắc đều giáp rừng. Diện tích toàn thôn là 17 mẫu 7 sào 10 thước, trong đó tư thổ là 2 mẫu 7 sào, đất hoang là 15 mẫu (2 khoảnh). Đường thiên lý đi ngang qua thôn 1 đoạn dài 4521 tầm (1 tầm = 2,12m) (Nguyễn Đình Đầu, Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn – Khánh Hòa, Nxb TP.HCM, trang 239)

Những địa danh Gò Muồng, Gò Dê, Đồng Dưa, Đồng Lác, Cà Đú, Láng Mun, Rừng Lai …tuy nó dân dã, hơi thô kệch nhưng nó đã ăn sâu vào tâm trí nhiều thế hệ và được nhiều người không kể lương- giáo biết đến.

 

Nguyễn Văn Nghệ