QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

 

 

 

 

VẠN NINH - ĐẤT VÀ NGƯỜI

NGUYỄN MAN NHIÊN

Kỳ 1

Biển mênh mông xanh biếc, lúa bạt ngàn đồng xa… Đất trù phú và người hiền hòa đã làm nên một Quảng Phước xưa - Vạn Ninh nay, vùng đất giàu đẹp anh hùng, có bề dày lịch sử trên 350 năm.

I. NHỮNG BIẾN ĐỔI TRÊN BẢN ĐỒ ĐỊA LÝ - HÀNH CHÍNH

Huyện Vạn Ninh - vùng đất cực bắc của tỉnh Khánh Hòa - nguyên trước kia là huyện Quảng Phước thuộc phủ Thái Khang, được thành lập năm 1653 dưới thời Thái Tông Nguyễn Phúc Tần (Chúa Hiền). Đến năm 1690 huyện này thuộc phủ Bình Khang, năm 1803 thuộc phủ Bình Hòa. Từ năm 1831 đổi là phủ Ninh Hòa, gồm 6 tổng: Phước Tường Ngoại (18 làng), Phước Tường Nội (16 làng), Phước Thiện (10 làng), Phước Khiêm (12 làng), Phước Hà Nội (17 làng), Phước Hà Ngoại (10 làng

Đến ngày 01-3-1931, phủ Ninh Hòa được cải thành huyện Vạn Ninh,gồm 3 tổng là Phước Tường Nội, Phước Tường Ngoại và Phước Thiện;cắt 3 tổng Phước Khiêm, Phước Hà Nội, Phước Hà Ngoại nhập vào huyện Tân Định và đổi huyện này thành phủ Ninh Hòa mới. Như vậy huyện Vạn Ninh chính thức thành lập vào năm Bảo Đại thứ 6 (1931).

Đến năm 1954, chính quyền Sài Gòn bỏ danh xưng phủ, huyện, đổi thànhquận, huyện Vạn Ninh đổi thành quận Vạn Ninh. Năm 1956, cắt một phần đất của quận Vạn Ninh (gồm các xã thuộc tổng Phước Thiện cũ) nhập vào quận Ninh Hòa. Giai đoạn 1970-1975, quận Vạn Ninh có 9 xã là Vạn Phước, Vạn Long, Vạn Khánh, Vạn Bình, Vạn Phú, Vạn Thắng, Vạn Thạnh, Vạn Lương, Vạn Hưng.

Về phía chính quyền cách mạng, đầu năm 1946 ta chủ trương thành lập đơn vị hành chính cấp xã, huyện Vạn Ninh có 8 xã: Phước Đồng, Phước Trung, Phước Tây (thuộc tổng Phước Thiện), Đồng Xuân, Đồng Tiến, Đồng Hòa (thuộc tổng Phước Tường Nội), Liên Hưng và Liên Hiệp (thuộc tổng Phước Tường Ngoại). Trong 2 cuộc kháng chiến, Vạn Ninh nhập chung với Ninh Hòa, gọi là Liên huyện Bắc Khánh.

Sau ngày thống nhất đất nước 30-4-1975, năm 1976 chính quyền cách mạng hợp nhất 2 huyện Vạn Ninh, Ninh Hòa thành một huyện mới gọi là huyện Khánh Ninh. Cơ quan hành chính huyện đặt tại Ninh Hòa. Đến Quyết định số 85/QĐ-CP ngày 05-3-1979, huyện Khánh Ninh được tách ra thành 2 huyện Vạn Ninh  Ninh Hòa như trước đây.

Tháng 12 năm 1993, Nghị quyết kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa 9 điều chỉnh ranh giới giữa hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa, tách thôn Vũng Rô (thuộc xã Đại Lãnh) ra khỏi huyện Vạn Ninh (tỉnh Khánh Hoà) để sáp nhập vào xã Hoà Xuân, huyện Tuy Hòa (tỉnh Phú Yên).

Địa giới hành chính huyện Vạn Ninh hiện nay: bắc giáp huyện Tuy Hòa (tỉnh Phú Yên), nam giáp huyện Ninh Hòa, tây giáp huyện Ninh Hòa và huyện Sông Hinh (tỉnh Phú Yên), đông giáp biển Đông.

Diện tích tự nhiên: 556,038 km2; dân số: 127.555 người (tính đến 31-12-2004). Ngoài dân tộc Kinh chiếm đa số, trước đây có người Đê (tức dân tộc Ê-đê) ở theo triền núi Vạn Phú - Xuân Sơn, nên có địa danh là Soi Đê. Đặc biệt có nhóm người Hạ (gọi tắt từ danh xưng người Đàng Hạ) cư ngụ rải rác ở xóm Sơn Đừng ở Đầm Môn Hạ và Bãi Sau đảo Điệp Sơn (thuộc xã Vạn Thạnh), sống quần cư làm nghề đánh bắt và còn giữ phong tục xưa của dân tộc này.

Số lượng các đơn vị hành chính huyện Vạn Ninh hiện nay gồm: 1 thị trấn: Vạn Giã (thành lập theo QĐ số 268/QĐ-CP ngày 23-10-1978) và 12 xã: Đại Lãnh (thành lập theo QĐ số 230/QĐ-HĐBT ngày 13-9-1985), Vạn Thọ (thành lập theo QĐ số 100/QĐ-HĐBT ngày 30-9-1981), Vạn Phước (thành lập theo QĐ số 100/QĐ-HĐBT ngày 30-9-1981), Vạn Long, Vạn Khánh, Vạn Thắng, Vạn Bình, Vạn Phú, Vạn Lương (thành lập theo QĐ số 32/2000/NĐ-CP ngày 11-8-2000), Vạn Hưng (thành lập theo QĐ số 43/QĐ-HĐBT ngày 15-4-1986), Xuân Sơn (thành lập theo QĐ số 43/QĐ-HĐBT ngày 15-4-1986) và Vạn Thạnh.

II. VÙNG ĐẤT VÀ CON NGƯỜI

1. NON NƯỚC VẠN NINH:      

- Dãy Tam Phong tục gọi núi Ba Non, nằm phía tây núi Đại Lãnh, chỗ giáp giới hai tỉnh Khánh Hòa và Phú Yên. Sở dĩ gọi là Tam Phong vì có 3 ngọn núi cao chọc trời: ngọn cao nhất là Trấn Sơn (Hòn Giữ, 1.264 thước), thứ nhì là Hoành Sơn (Hòn Ngang, 1.128 thước) và ngọn thứ ba là Hộ Sơn (Hòn Giúp, 1.127 thước).

- Hòn Tu Hoa cao 728 thước, tên cũ là Hoa Sơn, ở phía tây Tu Bông (Vạn Khánh), xưa nay nổi tiếng là nơi có nhiều gió: “Mưa Đồng Cọ gió Tu Hoa”.

- Núi Mã Cảnh: phía đông sát biển, phía bắc liền Đèo Cả, hình giống cổ ngựa nên gọi tên thế. Xưa có đường trạm đi qua, nay gọi là đèo Cổ Mã, dài khoảng 2km, phía bắc đèo là xã Đại Lãnh, phía nam đèo là làng Tuần Lễ, Ninh Mã (xã Vạn Thọ).

- Núi Bồ Đà cao 292 thước, cạnh đó về phía đông có núi Phiên Lêtục danh Dốc Thị là nơi trước đây Tổng trấn Trần Đường đóng quân chống Pháp. Quanh Bồ Đà - Dốc Thị còn nhiều núi cùng chung sơn mạch như phía bắc có Hòn Chùa, phía nam có núi Quán. Trên những ngọn núi này xưa kia có nhiều thiền sư đến lập chùa tu hành.

- Núi Đá Đen cao 611 thước, gọi tên theo màu sắc của đá. Trên núi có dấu tích thành lũy của Chiêm Thành, tục gọi là Thành Hời, trải rộng từ núi Đá Đen đến giáp Quốc lộ 1A, cách thị trấn Vạn Giã về phía nam khoảng 11 cây số (dốc Đá Trắng). Dưới chân núi có Láng Chu, Láng Nhớt, Giếng Tiên, Chín Cụm và một cánh đồng rộng gọi là đồng Xuân Sơn.

- Sông Tô Hà, nay thường gọi là sông Tu Bông, phát nguyên từ vùng núi Tu Hoa, Đồng Cọ chảy qua Tu Bông xuống vịnh Trâu Nằm đổ ra vịnh Vân Phong. Về phía thượng lưu có đập ngăn nước: Đập Sổ.

- Sông Bình Sơn, thường gọi là suối Bình Trung, phát nguyên từ Hòn Giúp chảy qua Tứ Chánh, Trung Dõng, Bình Trung rồi đổ ra vịnh Vân Phong.

- Sông Vạn Giã, tục danh là sông Hầu, có hai nguồn từ vùng núi Tam Phong, một nguồn từ Hòn Chảo chảy qua Hiền Lương hợp lưu đổ ra Cửa Giã chảy vào vịnh Vân Phong.

- Vạn Ninh có vịnh Vân Phong rộng lớn, chạy từ đèo Cổ Mã theo hướng Đông Nam tạo thành cánh cửa che gió Bắc, dài trên 20 cây số. Trong vịnh có vũng Trâu Nằm ở Tu Bông. Hiện nay có khu du lịch Hòn Ông nổi tiếng. Nằm liền vịnh Vân Phong, trên bán đảo Hòn Gốm có một mũi đất nhô ra biển gọi là Mũi Đôi, cạnh đó cách bờ khoảng 600m có một đảo nhỏ rộng khoảng 20000m2 gọi là Hòn Đầu. Mũi Đôi-Hòn Đầu là một thắng cảnh vô cùng độc đáo trên vùng biển Khánh Hòa, năm 2005 đã được Bộ VH-TT xếp hạng DTDLTC cấp quốc gia. Bãi biển Đại Lãnh nằm về phía bắc thị trấn Vạn Giã 20km, nước trong xanh lấp lánh mây trời, thuyền bè dựa kề san sát. Đây là bãi biển du lịch nổi tiếng của tỉnh nói chung và Vạn Ninh nói riêng. Khu Rạn Trào Xuân Tự (xã Vạn Hưng) là nơi có nhiều bãi san hô như Rạn Trào, Rạn Tướng, Rạn Cụm Mèo… Đây là vùng biển có nhiều loại hải sản quý hiếm đã được chính quyền địa phương thành lập khu bảo tồn.

Bài vè các lái sau đây của dân ghe bầu giao thương mua bán trên tuyến đường biển Bắc-Nam ngày xưa đã ghi lại khá nhiều địa danh trong hải phận vịnh Vân Phong:

… CÂY SUNG, BÃI CỎ đà qua

BẾN ĐÒ, CỒN CẠN, người ta tiếng đồn

Tiếng đồn HÒN LỚN, HÒN NHỎ, CHÍN KHÔN

CỨT CHIM, HÒN ĐỎ, đêm hôm ai nhầm

Xuôi lên một đổi xa tăm

Vừa ngang BẢY GIẾNG hỏi thăm TRÂU NẰM

TRÂU NẰM ngoài nước khá thương

Sóng xô mưa tạt dựa nương tư bề

TRÀO ĐEN, TRÀO ĐỎ, CON NGHÊ

CỘT BUỒM đã thấy dựa kề HỒ NA

ĐỒI MỒI chớn chỡ day ra

Coi trong CÁT THẮM chạy qua HÒN GẦM

HÒN GẦM sóng bổ lao xao

Ngước mặt trông vào BÃI NHỎ, HÒN NGANG

Thương con nhớ vợ trăm đàng

Nước mắt hai hàng lụy nhỏ thâm biên

ĐÁ CHỒNG dừng dựng mọc liên 

Bạt sóng be thuyền đầu nối HÒN DƯƠNG…

2. ĐỊA DANH:

Vạn Ninh nằm trên trục Quốc lộ 1A Bắc Nam, phía Bắc tiếp giáp với huyện Tuy Hòa (tỉnh Phú Yên) nối qua đèo Cả (12 cây số), phía Nam chung vách với huyện láng giềng Ninh Hòa vốn là anh em sinh đôi. Trung tâm huyện là thị trấn Vạn Giã nằm giữa hai thành phố Tuy Hòa - Nha Trang, cách chẵn tròn mỗi bên 60 cây số, thật là một sự cân đối thú vị về “con đường thiên lý” giao thương.

Vùng đất có bề dày lịch sử trên 350 năm này từ xa xưa đã nổi tiếng với hình ảnh “cơm trước mặt cá sau lưng”. Phía Đông nằm dọc theo bờ biển tạo một đường cong ôm tròn vịnh Vân Phong. Phía Tây mở rộng về hướng núi Đá Đen - Hòn Chảo - Hòn Ngang qua những cánh đồng trù phú phì nhiêu. Tất cả tạo nên một vùng cảnh quan riêng biệt với những nhóm đất - cát - đất cát biển - đất mặn để có những dòng nước chè hai và mạch ngọt nguồn uống mát.

Theo cách hiểu của một số nhà nghiên cứu (khởi đầu là Quách Tấn trong tác phẩm Xứ Trầm Hương), địa danh Vạn Giã nguyên do từ tên hai cửa biển của vịnh Vân Phong hợp lại mà thành.

Cửa Vạn thuộc bán đảo Đầm Môn, nằm dưới chân bán đảo Bàn Sơn trông ra một hòn đảo lớn nên người xưa gọi là Hòn Lớn (Ngó ra Hòn Lớn ba lần; Thấy anh ở trần trong dạ xót xa; Trở về mua lụa đậu ba; May áo cổ giữa gửi ra cho chàng). Hòn Lớn (tên chữ là Đại Dự) sừng sững che chắn giông bão, tàu thuyền ngư dân, vì thế nên phía sau là nơi rất kín gió. Đầm Môn ngày nay thuộc xã đảo Vạn Thạnh và đã nối với đất liền bằng con đường xẻ cát dài hơn 18 cây số từ Đầm Môn gối đầu với Quốc lộ 1A tại đèo Cổ Mã ở cây số 1372 + 740, đi qua các thôn Tuần Lễ, Xóm Mới, Vĩnh Yên. Đây là con đường “trong mơ trở thành hiện thực” của người dân nối đời ở Đầm Môn. Kinh phí trên 60 tỷ đồng và đã đưa vào sử dụng. Tàu bè ra vào Cửa bằng hai lạch ở giữa Hòn Lớn và hai nhánh núi của bán đảo Bàn Sơn. Lạch phía Đông là lạch Cửa Bé, lạch phía Tây là lạch Cửa Lớn(còn gọi là lạch Cổ Cò).

Cửa Giã nằm trong đất liền thuộc Vạn Giã ngày nay (kéo dài từ bờ biển xã Vạn Lương đến giáp bờ xã Vạn Thắng), nước sông Hiền Lương chảy ra cửa này, là nơi tấp nập ghe thuyền buôn bán ra vào neo đậu. Cửa Giã ngày nay đã trở thành khu dân cư đông đúc, nhà cửa sầm uất.

Một cách hiểu khác, theo chúng tôi, đơn giản hơn nhưng có lẽ gần với sự thật hơn: Vạn Giã nguyên thủy nghĩa là làng của những người làm nghề chài lưới (vạn: làng chài dọc theo vịnh biển, cửa sông; giã: nghĩa hẹp : lưới giã, nghề biển trước đây rất phổ biến ở địa phương; nghĩa rộng: chỉ nghề biển nói chung: biển giã). Sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn cũng chép: “Quán Vạn Giã: ở huyện Quảng Phước, dân cư trù mật, làm nghề đánh cá, từ khi binh lửa, dân bị điêu tàn”.

Khi xưa, người dân địa phương cũng như đồng bào ngược xuôi Nam- Bắc vẫn thường gọi một tiếng Giã đơn giản mà vô cùng thân thiết như:đi Giã, về Giã, xuống Giã, ở Giã v.v… Những cái tên: ga Giã, chợ Giã, cửa Giã, trạm Giã… đến nay vẫn tồn tại nơi đầu môi cửa miệng của người dân xứ Vạn.

Vạn Ninh còn có những địa danh gắn liền với tên đất, tên làng từ thuở xa xưa như: Tu Bông (Gió đâu bằng gió Tu Bông; Thương ai bằng thương cha thương mẹ thương chồng thương con), Tuần Lễ, Vĩnh Yên-Vĩnh Giật; những địa danh ghi dấu một thời Chăm-pa: Mả Tháp, cầu Thành Hời, ga Thành Hời; những cái tên dân gian ngộ nghĩnh: Lỗ Đĩ, Lỗ Lường (Thơ trào phúng của Định Phong: Phải chăng vì giống vì nòi; Trời sanh Lỗ Đĩ, Lỗ Đoi, Lỗ Lường; Làm trai đầu cuống chưa tường; Muốn xem tận mắt tìm đường đến xem), Soi Đê, Đầm Môn, Bảy Giếng (sau này thường bị gọi sai là Bãi Giếng, đi vào ca dao với nghề đầm đăng: Có chồng Bảy Giếng được nhờ; Ngày thời chắp bả tối đánh cờ hơn con;Không lo chi tiền hết gạo còn; Thuyền về tới bến xách con “rau” dài; Cất tiếng kêu bớ gã lái hai; Lại đây em gởi con rau dài cho anh), Hòn Nhọn, Trại Thơm, Lỗ Bùn, Nước Nóng, Đồi Cát Xễ, Mũi Cổ Cò, Đầm Mây, Vũng Trâu Nằm, Hòn Gầm, Ngòi Ông Cộ, Ngã ba Cây Duối, Đèo Dốc Thị, Dốc Đá Trắng…; hoặc những địa danh gợi nhớ đến những năm tháng đau thương mà anh hùng dưới thời Pháp thuộc: Cầu Đúc, Mả Tây, Xe Cháy, Đồn Nhà Đá, Dốc Cây Cờ

Xem tiếp kỳ 2

 

Bài liên quan