QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

 

 

 

 

VẠN NINH - ĐẤT VÀ NGƯỜI

NGUYỄN MAN NHIÊN

Kỳ 2

 

3. NHÂN VẬT LỊCH SỬ:

Thời phong kiến, sách Đại Nam nhất thống chí do Quốc Sử quán triều Nguyễn biên soạn có ghi lại hành trạng, công tích một số nhân vật tiêu biểu của đất Quảng Phước xưa:

- Phạm Văn Chứ: Người huyện Quảng Phước, thời Nguyễn Ánh có công làm đến chức Cai Cơ. Năm Tân Dậu (1801) mất ở thành Quy Nhơn, được tặng chức Chưởng Cơ và được thờ ở đền Chiêu Trung.

- Nguyễn văn Cống: Người huyện Quảng Phước, thời Nguyễn Ánh lập được nhiều chiến công, khi mất được tặng Chưởng Cơ, được thờ vào miếu Công Thần.

- Liệt nữ Huỳnh Thị Nghĩa: Người huyện Quảng Phước. Nhà nghèo, một hôm cùng chồng vào núi đốn củi, người chồng bị cọp vồ, tha đi. Bà cầm rựa rượt theo. Cọp nhả chồng bà ra để kháng cự. Cuối cùng, cọp bỏ chạy. Lúc đó bà 47 tuổi, được người đời ca tụng là người có nghĩa. Năm Thiệu Trị thứ 4 (1844), bà được vua khen và ban thưởng.

Lịch sử đấu tranh cứu nước và giữ nước của nhân dân Vạn Ninh luôn gắn liền với lịch sử chống ngoại xâm của cả dân tộc. Trong phong trào yêu nước chống Pháp cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX có gương sáng Tổng trấn Trần Đường - người con đất Hiền Lương - đến nay còn lưu truyền qua ca dao:

Ở Khánh Hòa thì có ba ông

Ông Trần Đường giữ đèo Dốc Thị

Ông Trịnh Phong trấn nơi biển Cù

Ông Nguyễn Khanh lo việc quân nhu

Ba ông một bụng nghìn thu danh truyền.

Ông Trần Đường người làng Hiền Lương, xã Vạn Lương, sinh năm 1839, thạo Hán văn, giỏi võ nghệ, làm Phó Tổng triều Tự Đức (1848-1883). Hưởng ứng phong trào Cần Vương, ông được Bình Tây Đại tướng Trịnh Phong cử giữ chức vụ Tổng Trấn, trấn quân khu Bắc của Tỉnh (vùng Vạn Ninh, Ninh Hòa), tổng hành dinh nghĩa quân được đặt tại núi Phổ Đà, nằm phía tây Dốc Thị (thuộc thôn Xuân Tự, xã Vạn Hưng). Trong trận đánh Pháp tại đèo Dốc Thị, bị thua trận, ông cho rút quân lên Đầm Thụ (thôn Xuân Sơn). Quân Pháp đến làng ông bắt bớ, tàn phá nhà cửa, bắt thân tộc ông làm con tin, đòi ông ra hàng. Ông thương xót tình máu mủ và tự xét quân mình chống không lại, nên ra nạp mình. Quân Pháp dụ dỗ ông quy hàng, làm việc cho Pháp, được phong quyền cao chức trọng, nhưng ông từ chối, thà chết còn hơn mang tiếng theo giặc làm tay sai giết hại dân mình. Cuối cùng quân Pháp đem ông ra xử bắn vào ngày 21-8-1885. Chúng bêu đầu ông ba ngày để uy hiếp dân chúng, rồi mới cho thân nhân nhận thi hài về chôn cất. Hiện mộ ông ở thôn Hiền Lương, quê hương của ông.

Tu Bông xưa cũng là vùng dất hội tụ những anh hùng hào kiệt. Hai cha con Phạm Chánh, Phạm Long cùng Hiệp trấn Nguyễn Sum đã làm nên Quảng Phước tam hùng: “Gương phấn dũng làu làu Phạm Chánh;Cùng Phạm Long chung gánh non sông; Cha con trung hiếu vẹn tròn; Cùng Nguyễn Sum, nguyện mất còn có nhau; Bao phen cay đắng hận thù ; Tam hùng, tam kiệt nghìn thu trăng rằm”.

Ông Phạm Chánh người làng Hội Khánh, xã Vạn Khánh, học giỏi nhưng không đi thi. Hưởng ứng phong trào Cần Vương, ông được cử giữ chức Tham trấn trong đạo quân của ông Trần Đường ở quân khu Bắc.

Ông Phạm Long tức Luông, là con trai trưởng của ông Phạm Chánh, tuổi trẻ nhưng chí khí hơn người, cùng cha tham gia nghĩa binh, giữ chức Nhiếp binh.

Ông Nguyễn Sum người Hội Khánh, cùng quê với cha con ông Phạm Chánh, cùng tham gia phong trào Cần Vương, giữ chức Hiệp Trấn.

Ba ông được giao đóng quân giữ lương thực tại Đồng Đồn (Tu Bông), bị giặc Pháp tấn công bất ngờ nơi đóng quân vào ban đêm, không kịp đề phòng, nghĩa quân thất bại, kho lương bị đốt sạch. Ba ông chạy lên núi, cho quy tập tàn quân, chờ dịp phản công. Hai lần tấn công quân Pháp ở Hiền Lương và tại núi Quán Chùa, trận nào cũng gây cho Pháp nhiều thiệt hại, nhưng nghĩa quân cũng tan tác nhiều, chỉ còn ba ông, trong khi ông Nguyễn Sum bị thương nặng. Ba ông rút về Tu Bông chờ thời cơ. Trong một lần về làng lấy lương thực, ông Phạm Chánh bị Việt gian bắt nộp cho Pháp. Con của ông là Phạm Long cùng ông Nguyễn Sum cũng đến nạp mình cho quân Pháp vì đã thề nguyền là đồng sinh đồng tử và cũng để thế mạng cứu dân khỏi quân Pháp tàn sát. Năm 1886, thất bại trong âm mưu mua chuộc, quân Pháp đưa ba ông ra xử bắn tại Gò Đồn thuộc thôn Hòa Khánh.

Trong cao trào Cách mạng tháng 8, Vạn Ninh cũng là lá cờ đầu của tỉnh với khí thế hào hùng giành chính quyền trước nhất. Đêm 13 rạng ngày 14-8-1945 quân và dân các tổng Phước Thiện, Phước Tường Nội dưới sự chỉ huy của ông Hoàng Hữu Chấp, đại diện Ủy ban Việt Minh, tuyên bố xóa bỏ chính quyền tay sai và thành lập chính quyền cách mạng.

Nối tiếp truyền thống cha ông, trong hai cuộc kháng chiến cứu nước quân dân Vạn Ninh đã lập nên nhiều chiến công hiển hách như: trận Vạn Giã (tháng 5-1946), trận Hiền Lương của Trung đoàn 79 thuộc Đại đoàn 27, các trận đánh ở đèo Cả - Đại Lãnh (1947), Ninh Mã (1949), các cuộc giao chiến ở Gò Hoàng, Gò Găng của biệt động đội C500 ở Vạn Lương đã làm nên.

Với truyền thống yêu nước cao cả và những đóng góp to lớn trong hai cuộc khánh chiến, huyện Vạn Ninh đã vinh dự đón nhận danh hiệu tập thể và cá nhân sau đây:

- Xã Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân: Vạn Lương.

- 235 thương binh; 805 liệt sĩ; 24 Bà mẹ Việt Nam anh hùng; 1 Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

5. PHONG TỤC TẬP QUÁN:

Cái tên Quảng Phước xưa đã nói lên tất cả tính cách và đặc trưng của vùng đất. Quảng có nghĩa là rộng rãi: đất rộng phì nhiêu, bao la trù phú;  lòng người bao dung, hào phóng, hiếu khách. Phước hay phúc là lộc trời ban phát ưu đãi. Thiên nhiên tặng thưởng một vùng có địa dư thuận tiện: trên rừng nào trầm hương kỳ nam nổi tiếng, ngoài biển tôm cá chạy đan dài. Người dân xứ Vạn xưa nay sống chủ yếu bằng nghề nông và nghề biển. Vạn Giã được ông cha ta gọi là xứ “cơm trước mặt cá sau lưng” vì  ruộng đất phì nhiêu, cá tôm đặc biển, cho nên con người ở đây rộng rãi, hiếu khách. Có thể trong một làng, một xóm, thậm chí láng giềng cùng dùng phương tiện tàu thuyền trong việc làm ăn lao động hàng ngày, nhưng có gia đình thì phát rẫy ngoài Hòn trồng dưa trỉa bắp, lại có nhà bơi thuyền đánh bắt hoặc có người bán buôn, các lái ghe bầu, đi điệu làm nhang… Ngoài các nghề truyền thống làm ruộng, lưới đăng, làm gốm, bánh tráng, trồng mía hoặc buôn bán kinh doanh, nay còn phát sinh nhiều nghề mới như nuôi tôm hùm lồng ngoài biển, nuôi tôm sú ngoài đìa, trồng rong biển, ngọc trai …

Theo truyền thống ông bà để lại, vào ngày Tết có lệ cúng đình (3 năm hát bội một lần), cúng miễu (miễu bà Thiên Y), rước sắc, nêu công đức Tiền hiền khai khẩn, Hậu hiền khai cơ đồng thời tổ chức các trò chơi dân gian hoặc cúng cầu ngư, rước nghinh Ông có hò Bá Trạo: “Nay bổn lạch cầu ngư đáo lệ; Các thuyền đều ngư nghệ đồng tâm; Mời Nam Hải lịnh ông chứng chiếu; Hộ làng lạch cầu ngư đáo lệ”.

Người Vạn Ninh (nhất là vùng Tu Bông, Đại Lãnh) có cách phát âm gần giống với giọng Phú Yên. Như nguyên âm O phát âm lệch sang gần giống với A ( đọc gần như ), nguyên âm A đọc sang thành E (Ba, máthành Be, mé), âm Ê chuyển sang Ơ (đi về thành đi vờ). Nếu các nguyên âm E và Ê đứng trước phụ âm sẽ đọc thành như I (em, êm, đẹp phát âm thành im, đim hoặc điệp). Các vần Ôi phát âm thành Âu (bộ đội thànhbộ đậu), At, Ac phát âm thành Et, Ec (ca hát thành ce het) hoặc vần An, Ang thành En, Eng (Nha Trang thành Nhe Treng)…

Về cách gọi người thân, một số ít người vẫn còn tập quán gọi “thứ” mà không kèm theo hệ bậc như ông, cậu, anh, chị v.v…. Họ chỉ gọi là Năm, Tư, Bảy, mặc dầu những người này đã lớn tuổi. Ở các vùng ven biển, lại không dùng thứ bậc mà gọi thẳng bằng tên, dù cho các vị ấy đã lớn tuổi. Chẳng hạn như khi người được hỏi ở gần nhà ai thì họ sẽ trả lời là nhà Diễn, nhà Hạnh…

6. KIẾN TRÚC TÔN GIÁO:

- ĐÌNH: Hầu hết đình làng ở Vạn Ninh đều được xây cất từ thời Tự Đức. Đình nào cũng thờ Thần Hoàng. Hàng năm dân làng luôn tổ chức cúng tế ghi ơn Tiền hiền khai cơ, Hậu hiền khai khẩn theo nghi thức cổ truyền. Những đình tiêu biểu như đình Phú Cang (xã Vạn Phú) là di tích cấp quốc gia, đình này xưa có lò rèn để đúc súng chống Pháp; đình Tân Mỹ (thị trấn Vạn Giã) là công trình kiến trúc nghệ thuật độc đáo thời Nguyễn có chạm rồng phượng; đình Hiền Lương (xã Vạn Lương) - nơi hội họp của nghĩa quân Cần Vương, đã tìm thấy thanh kiếm nghĩa sĩ thời ấy và nhân dân lập mộ kiếm để thờ; đình Trung Dõng (xã Vạn Bình); đình Phú Hội, Quảng Hội (xã Vạn Thắng); đình Tân Phước (xã Vạn Phước)…

- CHÙA: Làng nào cũng dựng lập. Chùa cổ nhất ở Vạn Ninh là Chùa Linh Sơn, thường gọi là chùa Tổ, lập năm 1761, do Hòa thượng Đại Bảo khai cơ, đến nay đã tròn 245 năm. Rồi đến Chùa Tàu, tức Trung Hoa hội quán, người Hoa gọi là Chiêu Ứng Từ, được phong từ đời Tự Đức thứ tư (1851) thờ 108 vị anh linh. Hàng năm vào ngày 16 tháng 6 âm lịch thường tổ chức lễ Song Kỳ cúng dê. Chùa gồm Tiền đường, Chánh điện, Cổ lầu, bên ngoài có công viên. Trước năm 1975, chùa Tàu mở trường dạy chữ Hán và tiếng Việt. Chùa Hội hoặc chùa Vạn Đức dựng ngay tại thị trấn Vạn Giã. Chùa Giác Hải xây trên đồi cao thôn Xuân Tự, khai cơ là Thượng tọa Thích Viên Giác, đệ tử Bích Không Đại Sư, cất năm Bính Thân (1956).

- MIẾU: Cấu trúc bên trong có Nội điện để an phụng thần vị, nhưmiếu Thiên Y A Na gần cây sộp cổ thụ cạnh đình Tân Mỹ (thị trấn Vạn Gĩa).

- LĂNG: Các làng ven biển đều lập Lăng thờ Ông Nam hải (cá voi), hàng năm có lệ cúng lăng hát bội, hò bá trạo, rước nghinh Ông: “Ngó ra ngoài biển lao xao; Nghiêng mình mà rước Ông vào gành Nghê; Thuở xưa Nam Hải sắc phong; Chánh ngư cự tộc bửu dòng Thủy long”.

- NHÀ THỜ: Được xây cất từ đầu thế kỷ XX, sớm nhất là nhà thờ Vạn Giã (1902-1903), công trình kiến trúc theo lối Gôtic, đã có trăm năm tuổi. Rồi đến các nhà thờ khác như nhà thờ Diêm Điền (Vạn Khánh), nhà thờ Vạn Xuân thuộc thôn Xuân Tự, xã Vạn Hưng.

7. KHO TÀNG VĂN NGHỆ DÂN GIAN:      

Kho tàng văn nghệ dân gian huyện Vạn Ninh thấp thoáng những câu hò câu hát từ các miền Thanh-Nghệ, Thuận-Quảng, Bình Định, Phú Yên. Trong cuộc lưu dân, ông cha ta đã mang theo những “viên ngọc lấp lánh” này cùng với bước chân khai phá mở đất lập nghiệp. Nhưng nói vậy không có nghĩa vốn văn nghệ dân gian ở đây chỉ là tập hợp từ các miền, mà còn thấy những nét đặc trưng rất riêng của con người Vạn Ninh qua nhiều hình thức sáng tạo phong phú.

- CA DAO: Điểm nổi bật nhất trong ca dao ở Vạn Ninh là tình yêu quê hương, tình yêu đôi lứa, tinh thần yêu nước kháng chiến chống thực dân đế quốc, hoặc ca ngợi tài nguyên, đặc sản biển rừng hay ngành nghề truyền thống:

- Chiều chiều đổ lúa vô quay

Xế xăng bóng mát cơn sầu này ai tuôn

Thiếp xa chàng cũng có bụng buồn

Bàng hoàng trong dạ, tỷ như tuồn nhớ ai.

- Têm trầu mà dắt mái rui

Cúi đầu lạy mẹ làm sui cho gần.

- Nhớ vì nhớ gốc me bịn rịn

Thương vì thương gốc sộp thề nguyền

Thương vì nợ, nhớ vì duyên

Lần đi phải nhớ chiếc phiên thuỷ đằng

Ai về làm rể lưới đăng

Ăn cơm bát bịt, tôm rằn kho tiêu…

- DÂN CA: thể hiện qua các điệu hò giã gạo, kéo lưới, đẩy thuyền, hò bá trạo hoặc hát ru, hát đố, hát đối đáp:

Nữ: Đôi ta nay đã rõ lòng

Chàng ơi phải tính cho xong sự nhà

Anh về thưa với mẹ cha

Cậy người bước tới trọn mà đạo con.

Nam: Em đừng than thở nặng lời

Anh về thưa cha mẹ cậy người bước sang

Cậy trong ông chú bên nàng

Xem ngày thiên hỷ đi sang một lần.

- TỤC NGỮ: mang đậm bản sắc địa phương: Mưa Đồng Cọ gió Tu Hoa; Trời chớp Mũi Nậy/ Thức dậy mà đi; Trời chớp Bà Gia/ Ở nhà mà ngủ; Tôm chạng vạng cá rạng đông; Tháng Mười ngó ra tháng Ba ngó vào;Gặp rắn thì đi gặp quy thì về… Đó là những câu cửa miệng của người đi biển, đi núi, đi  điệu ở Vạn Ninh.

- CÂU ĐỐ: hoặc đố chữ, đố điển tích: “Lửa chi lửa ở giữa lừng, Đó là đom đóm trong rừng bay ra”; “Phi nam, phi nữ, phi quân tử, phi tiểu nhân(con thằn lằn)…

- : “Muốn ăn to lên Dốc Mõ / Muốn ăn nhỏ xuống Hòn Hèo / Muốn ăn heo ra Đèo Cả / Muốn ăn chả lên Nà Tre / Muốn ăn chè lên Tứ Chánh / Muốn ăn bánh lên Hóc Chim”… hoặc “Lữ Bố Điêu Thuyền / Mắt liếc Phụng Tiên / Tay nưng Đổng Trác / Đàn bà bạc ác/ Vì bởi lưỡi dài / Hễ thấy mặt trai / Như âm dương điện / Xuân tình xuất hiện / Vì cái “thiên nhiên” / Thứ nhất chơi tiên / Thứ nhì cũng đủ / Ách xì mê lú / Tứ sắc bài cào / Thua hết không nao / Bạch mao thần lộ …”

- TRUYỆN CỔ: truyền thuyết cá Ông cứu nạn, chuyện về Lỗ Đĩ, Lỗ Lường, chuyện đánh cọp…

NMN

Bài liên quan