QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

Bài cùng tác giả

- Dân Ninh Hòa kể chuyện xưa: Sự tích làng Tây Đánh

- Hò cấy lúa ở Ninh Hòa

- Hòn Hèo quê tôi

- Cáng Trường

- Hát đưa con - Điệu hát ru Ninh Hòa (kỳ 2)

- Hát đưa con - Điệu hát ru Ninh Hòa (kỳ 1)

- Địa danh cũ ở Thị trấn Ninh Hòa

- Những chuyện vui "Ông cọp" ở Ninh Hòa

- Hương vị quê hương Ninh Hòa

- Câu đố dân gian Ninh Hòa (kỳ 3)

- Câu đố dân gian Ninh Hòa (kỳ 2)

- Câu đố dân gian Ninh Hòa (kỳ 1)

- Mùa xuân bắt chuột

 

 

 

 

 

 

 

 

Người Ninh Hòa nói chuyện xưa:

TÊN LÀNG TỔNG TRUNG, HUYỆN TÂN ĐỊNH 

 

Trải qua hơn 300 năm, một số  làng có từ khi mới thành lập, sau đó nhiều lần thay đổi, đến nay ít người còn biết  tên  xưa. Nếu không tìm hiểu ghi chép, sợ rằng quên mất những tên làng đã có một thời gian dài, gắn bó với sự phát triển đất nước nói chung, Ninh Hòa nói riêng.

Tìm hiểu lịch sử, tên làng là trân trọng quá khứ, biết thêm về quê hương, khuyến khích mọi người có tinh thần ham hiểu biết về dân tộc, cội nguồn, dân ta phải biết sử làng ta, tăng thêm lòng yêu nước, yêu quê hương.

Khó khăn lớn nhất khi tìm hiểu làng xã là thiếu tư liệu lưu trữ. Các bộ biên niên sử như Đại Nam Thực Lục…..thường chỉ quan tâm đến những biến cố của triều đình phong kiến xưa, ít được đề cập các làng xã, địa phương.

Bài viết này chiếu theo những tài liệu xưa để lại, và nghe những người cao tuổi, về những tên làng ở Tổng Trung, huyện Tân Định. Kí ức đôi khi phai mờ, giấy tờ tam sao thất bổn. Thiết nghĩ: việc tìm hiểu lại tên làng, có còn hơn không, mong quí đọc giả vui lòng, xem xét bổ sung những thiếu sót.

I/ Đặc điểm hình thành tổng Trung, huyện Tân Định:

Năm 1653, khi mở rộng vùng đất đến Phan Rang, Chúa Nguyễn Phúc Tần đặt  Dinh Thái Khang (Khánh Hòa ngày hôm nay), chia  làm 2 phủ: Thái Khang và Diên Ninh.

Phủ Thái Khang chia ra làm 2 huyện: Tân Định và Quảng Phước.

Huyện Tân Định chia ra 3 tổng: Tổng Thượng, Trung và Hạ.

Tổng Trung   có 22 xã, thôn. (Hồi đó qui định làng lớn, dân đông gọi là xã, làng nhỏ dân ít gọi là thôn).

Toàn diện tích:  1.287 mẫu,  0 sào, 11 thước, 2 tấc.

Trong đó công điền: 561 mẫu, 4 sào, 1 thước, 2 tấc.

Tư điền:  49 mẫu, 0 sào, 7 thước, 5 tấc.

Diện tích còn lại là đất (thổ).

Nhận thấy ở thời này, ruộng công chiếm tới 58%, ruộng tư chưa đến 5% trên tổng diện tích.

Lỵ sở huyện Tân Định (Văn phòng UBND Thị xã Ninh Hòa hôm nay) nằm ở làng Phước An, sau đổi Phước Lý,  thuộc Tổng Trung. Sau này mới cắt đất phía đông đường ray xe lửa làng Phước Lý nhập vào làng Mỹ Hiệp, xã Ninh Hiệp (Từ ga xe lửa đến ngã ba Bùng Binh Ninh Hòa), vì thế Văn phòng UBND thị xã Ninh Hòa thuộc trên phần đất Phường Ninh Hiệp hôm nay. Tổng Trung có chợ Dinh là nơi mua bán  sầm uất, nhộn nhịp, kinh tế phát triển bậc nhất thời đó của Dinh Thái Khang.

Đến thời vua Tự Đức (1847-1883), thì Tổng Trung đã được đổi thành Tổng Hiệp Trung (  ), và các tên làng cũng được đổi ngay sau đó. Điều này được xác định trong Đồng Khánh (1886-1888) Dư Địa Chí, tên Tổng Hiệp Trung và các tên làng mới đổi được ghi chép trong đó.

Khi dân ta mới đến ở, để gọi tên vùng đất, xứ đồng, làng xóm bằng tên Nôm, gần gũi, tai nghe mắt thấy, dễ nhận biết, đặc trưng của vùng đất qua hình dáng, cây cỏ, tên người có ở vùng đất đó, như  Gò Bò Cạp, xóm Cây Gạo, xứ Nàng Hai, Gò Trại, Đồng Dài…v..v. Cách gọi  này để  phân biệt nơi này với nơi khác, và cũng để đánh dấu sự có mặt người Việt đến ở nơi này. Đến khi thành lập làng xã, khu vực địa giới hành chính, mới gộp vài ba xứ đồng thành một làng. Việc đặt tên làng phải theo mỹ tự, chữ Hán, thường có 2 chữ, phải dùng chữ Hán để ghi chép công việc,  văn thư giấy tờ, sách vở.

Đặt tên làng theo quan niệm chữ đó có ý nghĩa an vui, hạnh phúc, phát triển…. Đó là hy vọng của người dân mong muốn thế, cho nên tên làng hồi đó thường có những chữ an, tân, phú……

II/ Danh sách tên làng Tổng Trung qua các thời kì:

 

Số

TT

 (1)

Tên đầu tiên

 

(2)

 Tự Đức

(1847-1883)

(3)

Năm 1954

 

(4)

 

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15

16

17

18

19

20

21

22

Tổng Trung 

An  Ấp   xã

An   Hòa xã

An Phụng xã

An Thành xã

Đồng Dài thôn

HươngThạnh xã

Mỹ Cang thôn

Mỹ Hoa thôn

Phú Đa thôn

Phú Vinh thôn

Phước An thôn

Phước An xã

Phước Lộc xã

Quang Hiện thôn

Thạch Thành xã

Thạnh Mỹ xã

Toàn Thạnh xã

Tuân An thôn

VĩnhPhước thôn

Xuân An xã

An Phú Hòa Hương xã

Bình An thôn

Tổng HiệpTrung 

Phong Ấp xã

Xuân Hòa xã

Nghi Phụng xã

Bình Thành xã

TrườngChâuThôn

Hương Thạnh xã

Phụng Cang xã

Mỹ Hòa xã

Phú Đa xã

Phú Lễ xã

Phước Mỹ xã

Phước Lý xã

Phước Lộc xã

Quang Vinh xã

Thạch Thành xã

Thạnh Mỹ xã

Mỹ Thạnh xã

Tuân Thừa thôn

Vĩnh Phước thôn

Điềm Tịnh xã

Phú Hòa xã?

Bình Trị thôn?

Bỏ tổng, tất cả đều là thôn.

Thôn Phong Ấp

Thôn Xuân Hòa

Thôn Nghi Phụng

Thôn Bình Thành

Thôn Trường Châu

Thôn Hiệp Thạnh

Thôn Phụng Cang

Thôn Thuận Mỹ

Thôn  Phú Đa

Thôn  Phú Bình

Thôn Phước Mỹ

Thôn Phước Lý

Thôn Phước Lộc

Thôn Quang Vinh

Thôn Thạch Thành

Thôn Thanh Mỹ

Thôn Mỹ Hiệp, xã Ninh Hiệp.

Thôn Tuân Thừa

Thôn Vĩnh Phước

Thôn Điềm Tịnh 

Thôn Phú Hòa, xã Ninh Quang

Thôn Bình Trị, xã Ninh Bình

 

DIỄN GIẢI:

- Thời gian trước năm 1954, qui định làng lớn, dân đông gọi là xã, làng nhỏ hơn gọi là thôn. Nhiều xã thôn hợp lại thành Tổng, như Tổng Trung huyện Tân Định có 22 xã, thôn (làng). Đến năm 1954, bãi bỏ đơn vị hành chính cấp tổng, tất cả các làng trước kia gọi là xã hay thôn, cũng đều gọi là thôn. Đồng thời cứ khoảng 5, 6  thôn gộp thành một xã, tùy theo địa hình thuận tiện. Như vậy, trong Tổng Trung trước kia có 22 xã thôn, đến năm 1954 được chia thành 5 xã.

Đời chúa Thần Tông Nguyễn Phúc Lan, năm Mậu Dần(1638), đặt các chức quan ở địa phương. Đứng đầu mỗi xã có Xã trưởng.(1*). Vì thế ở vùng này, người ta thường gọi là ông Xã, mặc dù đến thời vua Minh Mạng (1820-1840) đã đổi thành Lý Trưởng.

- Ở dòng số 21 và 22,  Trong tập sách: Nghiên cứu địa bạ Triều Nguyễn, ghi 2 làng này đã mất địa bạ, nên không có  ranh giới tứ cận. Do đó chưa xác định được làng này tên bây giờ là gì. Phần chữ in nghiêng là chỉ phỏng đoán, sau khi dùng phương pháp loại trừ.

- Phần đất của Tổng Trung theo địa giới hôm nay gồm các xã phường như sau:

Phường Ninh Hiệp gồm các tổ dân phố từ số 1 đến số 10. Tổ dân phố 11 trở lên đến tổ dân phố 18, nằm thuộc huyện khác ( Tổng Trung, huyện Quảng Phước).

Xã Ninh Bình gồm các thôn: Phong Ấp, Phước Lý, Tuân Thừa, Bình Thành, Hiệp Thạnh.

Xã Ninh Phụng gồm các thôn: Điềm Tịnh, Xuân Hòa, Nghi Phụng, Vĩnh Phước, Phú Bình. Trừ thôn Đại Cát thuộc Tổng Thượng, huyện Tân Định.

Xã Ninh Quang gồm các thôn: Trường Châu, Thuận Mỹ, Phước Lộc, Quang Vinh, Thạch Thành, Thanh Mỹ.

Xã Ninh Hưng gồm các thôn: Phụng Cang, Phú Đa, Phước Mỹ.

-Trong  danh sách ở cột 2, có 10 làng  dùng chữ AN đặt tên, chiếm tỉ lệ 45% trên tổng số 22 làng. Nhưng trong Đồng Khánh dư địa chí, 10 tên làng có chữ AN biến mất,  thay thế vào đó  những chữ khác.

- Có 4 làng từ xưa đến nay vẫn giữ nguyên, không đổi tên đó là:

1/ Thạch Thành xã:

(Thạch nghĩa là đá, thành nghĩa thành trì), bây giờ là thôn Thạch Thành, thuộc xã Ninh Quang. Làng Thạch Thành có 3 đồi núi nhỏ: Núi Thơm, Núi Chùa, Núi Mọc, tạo như bức tường thành, núi có nhiều đá nên gọi Thạch Thành.

2/ Phước Lộc xã: 祿

(Phước = Phúc: may mắn. Lộc là bỗng lộc). Bây giờ là thôn Phước Lộc, xã Ninh Quang.

3/ Phú Đa  thôn :

(Phú là giàu có, đa là nhiều). Đến bây giờ vẫn là thôn Phú Đa, xã Ninh Hưng.

4/ Vĩnh Phước thôn  :

(Vĩnh nghĩa lâu dài. Phước: may mắn)

Hiện nay là thôn Vĩnh Phước xã Ninh Phụng.

- Có 2 làng giữ nguyên tên, cho đến khi 1954, tên làng chuyển sang chữ Quốc ngữ mới đổi tên là:

1/ Thạnh Mỹ xã :

 (Thạnh nghĩa: thạnh vượng, thành đạt. Mỹ nghĩa là đẹp). Đến sau này dùng chữ quốc ngữ, làng Thạnh Mỹ  thành thôn Thanh Mỹ, xã Ninh Quang.

2/ Hương Thạnh xã: (Hương Thịnh)

(Hương là mùi hương, thạnh là thạnh vượng, thành đạt). Đến năm 1954, Hương Thạnh đổi thành Hiệp Thạnh, thuộc xã Ninh Bình đến ngày hôm nay.

III/ Diển giải chi tiết một số làng:

1/ An Ấp xã:

 (An là bình an, yên ổn. Ấp: vùng đất ). Theo địa bạ Triều Nguyễn  (2*): An Ấp xã (xứ Thanh Bình).

- Đông giáp địa phận 2 xã Toàn Thạnh và Thạch Thành.

- Tây giáp địa phận thôn Quang Hiện và thôn Tuân An.

- Nam giáp địa phận xã Thạch Thành và thôn Quang Hiện.

- Bắc giáp địa phận xã Phước An và thôn Tuân An.

Toàn diện tích:  69.2.11.4 (Sáu chín mẫu, 2 sào, 11 thước, bốn tấc).

Thủy đạo 2 dải 244 tầm.

Sau đó làng đổi tên thành Phong Ấp 豊邑 ( Phong có nghĩa: đầy, thịnh, được mùa, đẹp).Ranh giới làng Phong Ấp trước kia, phía đông  gần đường Trần Quí Cáp Ninh Hòa. Đến khoảng năm 2000, để tiện việc quản lý hành chính, phần đất dưới (phía đông) đường ray xe lửa, nhập vào Thị Trấn Ninh Hòa, nay là Phường Ninh Hiệp.

Làng Phong Ấp có tên xưa: Xứ Thanh Bình,  nhân dân làm ăn sung túc, yên bình. Đình  Phong Ấp và chùa Bửu Phong  đã có từ lâu, kiến trúc độc đáo, thuộc hàng xưa nhất Ninh Hòa. Làng có truyền thống học giỏi, Thời nhà Nguyễn có 2 người đỗ tới Cử Nhân,  đó là:  Ông Nguyễn Văn Nhuận, đậu kì thi Hương năm Quí Mão (Thiệu Trị thứ 3, 1843), trường thi Gia Định, sau đó được bổ nhiệm chức Tri huyện Long Xuyên.

Người thứ 2 là ông Trần Thành, đậu kì thi hương năm mậu thân 1848 (Tự Đức nguyên niên, trường thi Gia Định. Sau đó được bổ nhiệm chức Tri huyện Mộ Đức, Quảng Ngãi.

2/ Toàn Thạnh xã: (3*) (Toàn Thịnh)

 (Toàn: nghĩa là hoàn toàn, toàn bộ. Thạnh: nghĩa thạnh vượng,). Theo địa bạ triều Nguyễn:

Toàn Thạnh xã (xứ Đồng Giữa, Đồng Ngoài, Đồng Trong).

.Đông giáp địa phận xã Thanh Châu và xã An Phú.

.Tây giáp địa phận xã An Thành và Thạch Thành.

.Nam giáp địa phận xã Thạch Thành và núi.

Bắc giáp địa phận thôn Vĩnh An (tổng Trung, huyện Quảng Phước) và núi.

Toàn diện tích 89.2.5.7  (89 mẫu, 2 sào, năm thước, bảy tấc).

Dịch trạm Hòa Mỹ 1. (1 mẫu)….

Toàn Thạnh là làng trung tâm của huyện Tân Định,  có chợ Dinh (chợ lớn nhất Ninh Hòa) người mua bán tấp nập, có thủy đạo 3 dải  1 120 tầm, ghe thuyền đi lại thuận lợi.  Có đường thiên lý Bắc Nam (đường lớn, quốc lộ số 1) tiện lợi giao thông đi lại.

Sau đó Toàn Thạnh xã được đổi tên thành Mỹ Thạnh xã   (mỹ nghĩa là đẹp), rồi lại đổi tên thành thôn Mỹ Hiệp. Đến năm 1975 chia ra làm 5 thôn (từ thôn 1 đến thôn 5). Đến năm 1978 thành 10 tổ Dân phố (từ tổ dân phố 1 đến tổ dân phố 10) thuộc Thị Trấn Ninh Hòa. Năm 2013 Thị trấn Ninh Hòa đổi thành Phường Ninh Hiệp.

Làng Toàn Thạnh có số dân đông nhất  huyện, nên được chia ra làm 5 ấp, theo 4 hướng đông tây nam bắc và trung tâm, thứ tự có tên: ấp Đông Thành, Tây Tựu, Nam Hòa, Bắc Hiệp và ấp Trung Mỹ. Hiện nay còn 5 nhà còn ghi tên 5 ấp kể trên. Ấp Đông Thành ở Xóm Rượu tổ dân phố 9. Ấp Tây Tựu ở tổ dân phố 8. Ấp Nam Hòa ở tổ dân phố 2. Ấp Bắc Hiệp ở tổ dân phố 10 (Gần Cầu Dinh 2). Ấp Trung Mỹ ở tổ dân phố 4.

Đình Mỹ Hiệp, nguyên tên xưa là đình Mỹ Thạnh, được khởi tạo vào năm Tân Mùi (1751) thời Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1738-1768), Sau nhiều lần trùng tu, kiến trúc đình uy nghi mà đẹp đẽ, được công nhận là di tích lịch sử.

Vì khuôn khổ bài viết có hạn, cho nên phần diễn giải chi tiết  chỉ có ghi 2 làng điển hình trong số 22 làng của tổng Trung, huyện Tân Định. Số làng còn lại chỉ lược sơ..

3/ Các  làng còn lại:

a/ An Hòa xã:

An: bình an. Hòa: cùng, An Hòa là cùng bình an.  Sau đó đổi thành Xuân Hòa xã   , Xuân là mùa xuân, Xuân Hòa là cùng mùa xuân.

b/ An Phụng xã: (An Phượng)

An là bình an.  Phụng: con chim phụng hoàng, con trống là phụng, con mái gọi là hoàng. Sau đó đổi thành Nghi Phụng xã (Nghi Phượng)  nghi là lễ nghi, nghi thức.

c/ Đồng Dài thôn,

Sau đổi thành Trường Châu thôn , Trường là dài, Châu: bãi cù lao, dãi đất. Trường Châu là Bãi cù lao dài, bãi đất dài.

d/ Mỹ Cang thôn :   (Mỹ Cương)

 Mỹ là đẹp, Cang là gò đồi. (gò đồi đẹp) Sau đó đổi thành Phụng Cang thôn (Phượng Cương) , Phụng là chim phụng. (gò có hình dáng giống như chim phụng)

e/ Mỹ Hoa thôn :

 Mỹ là đẹp,  Hoa là bông hoa. Sau đó đổi thành Mỹ Hòa , Hòa là cùng, trộn lẫn vào.

g/ Phú Vinh thôn :

Phú là giàu có, Vinh là vinh dự, vinh hoa. Sau đó đổi thành Phú Lễ, ,Lễ là lễ nghi. Phú Lễ là lễ nghi, giàu có.

h/ Phước An thôn: . Phước là may mắn, an là bình an. Sau đó đổi thành Phước Mỹ,   mỹ nghĩa là đẹp. Phước Mỹ là đẹp đẽ, may mắn.

i/ Phước An xã,  

giống như Phước An thôn ở trên. Sau đó đổi thành Phước Lý xã . Lý là tài lộc…Phước Lý là tài lộc, may mắn.

k/ Quang Hiện thôn:

 Quang là sáng, Hiện là xuất hiện, hiển hiện. Sau đó đổi thành Quang Vinh xã. Vinh là vinh dự, vinh hoa.

l/ Tuân An thôn:

 Tuân là tuân lệnh, An là bình an. Sau đó đổi thành Tuân Thừ 遵承.Thừa có nghĩa là thừa lệnh, nghĩa gần giống như Tuân.

m/ Xuân An xã :  

 Xuân là mùa xuân, An là bình an. Sau đó đổi thành Điềm Tịnh xã  , Điềm  là điềm đạm, yên ổn. Tịnh yên lặng.

n/  Phú Hòa xã :  

Phú là giàu có. Hòa : hòa cùng.

o/ Bình Trị thôn :平治  , Bình là bình yên. Trị : Cai trị.

Tìm hiểu lịch sử làng xã, là tình cảm thiêng liêng của mỗi người, sinh ra và lớn lên trên mảnh đất chôn nhau cắt rốn của mình. Mong rằng ai đó đọc những tư liệu này, dù mới chỉ là sơ lược, xin nhớ về cội nguồn quê hương.

 ĐỖ ĐỖ

******************                    

Tài liệu tham khảo:

- Nghiên cứu địa bạ Triều Nguyễn, phần tỉnh Khánh Hòa của Nguyễn Đình Đầu.

- Đồng Khánh dư địa chí lược quyển nhị thập ngũ chi thập (Tỉnh Khánh Hòa) Nguyễn Văn Nghệ phiên âm.

- Bộ Đinh và Điền làng An Ấp, nay là thôn Phong Ấp, xã Ninh Bình, ông Trần Đình Khôi ở thôn Phong Ấp lưu giữ, cung cấp.

- Và nhiều lời kể của các cụ cao tuổi ở Thị xã Ninh Hòa

(1*) Sách : Việt Sử Xứ Đàng Trong của Phan Khoang, nhà Xuất bản Khai Trí năm 1969, cuối trang 464.

(2*) Trang 185, sách Nghiên cứu địa bạ Triều Nguyễn, phần tỉnh Khánh Hòa. Nguyễn Đình Đầu dịch

(3*) Trang 192,   (Như số 2*)                                               .