QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

 

 

 

Trầm Hương Vạn Giã

Nguyễn Man Nhiên & Nguyễn Khoa Châu

Kỳ 2

 

5. KIÊNG CỮ VÀ NÓI TRẠI TRONG NGHỀ  ĐI ĐỊU:

Hầu hết trong các nghề truyền thống, nhất là đối với những nghề nghiệp thường gây rủi ro, ảnh hưởng đến tính mạng, công việc càng khó khăn, càng nguy hiểm, thì sự kiêng cử lại càng nhiều. Trong nghề đi địu tìm trầm, ông cha ta thuở xưa đặt ra nhiều điều kiêng cữ, nhất là trong lời ăn tiếng nói hàng ngày. Ngoài việc giữ gìn không xúc phạm đến chư vị Thần linh và người khuất mặt, dân đi địu có tục nói trại tức là không nói trực tiếp mà nói lệch sang một từ khác tương đương ngữ nghĩa, hoặc có thể dùng một biệt ngữ để ám chỉ về công việc trong lúc đang thao tác, hoặc tránh né các danh từ chung, tên riêng vì sợ “phạm húy”, chẳng hạn gạo nói là mễ, muối: diêm, đồng hồ: đồng ảnh, cái võng: cái đưa, té: nhễu, con rắn hoặc trăn: râu dài…

Tuy nhiên nếu chẳng may, hoặc bất ngờ vô ý, theo phản xạ, mà đã lỡ lời trong câu chuyện hay trong việc sinh hoạt hàng ngày thì cũng không có gì đáng ngại. Nếu rủi ro như vậy, khi được hỏi có cách nào chế giảm hay không, thì các cụ nói rằng nếu vô ý lỡ lời thì không bị thần linh quở trách. Ai có trách chi đối với những người không biết. Tuy nhiên, vẫn có lệ phạt một cách tượng trưng người chủ bầu trong đoàn đi địu, bằng cách người chủ bầu tự nằm xuống để cho người nói lỡ lời ấy đánh ba roi! Một ý nghĩa tự phạt, tự nhận lỗi lầm vì đã không biết nhắc nhở người trong đoàn giữ dè lời ăn tiếng nói. Đây cũng là ý niệm xưa trong việc thầy dạy học trò không nên, trước hết người thầy tự nhận sai trái về mình...

Những từ nói trại mang tính thiêng liêng, mà ông cha ta đã quy ước “bất thành văn”, được nối đời sử dụng, tạo thành kho từ vựng độc đáo của nghề đi địu.

- Ăn: chuyển thành xóc (xóc xóc rồi lại nằm ình =  ăn rồi lại nằm nghỉ). Từ này, còn được nói là “xực phàn”, tiếng Quảng Đông, có nghĩa là ăn.

- Bao tử: nói là bao tải, hàm ý tránh chữ tử, sợ điều chết chóc.

- Bệnh (đau, ốm): nói là se. Đau bao tử chuyển thành se bao tải.

- Bị: có hai cách dùng. Khi với nghĩa là “mắc phải, gặp phải”, thì nói là bợi. Nếu dùng để ám chỉ ông cọp, phải gọi là ông Ba, ông Tư, hoặc ông Thầy, tỏ ý kính nể, sợ sệt vì cọp thường bắt người ăn thịt.

- Cái võng: gọi là cái đưa, gọi lệch như thế là vì sợ phải nằm võng khiêng về. Hơn nữa trên núi cao có nhiều sợi dây rừng cổ thụ rất to, người đi núi không dám quở, họ ngầm bảo là “võng của Bà”.

- Cá: gọi là rau.

- Chạy: nói lệch là sãi.

- Cháo = Nhão.

- Chết = trẫu (trỗi).

- Chó: gọi là cẩu, ý sợ chó sói, chó rừng.

- Cầu: nói thành kiều.

- Cọp: có nhiều tên thay thế: ông Ba, ông Bốn, ông Thầy.

- Dời (dời trại): chuyển trại đến nơi khác gọi là lấn trại.

- Đá (hòn đá): = hòn đớ. Hòn đá dùng làm bàn cúng.

- Đi tìm cây dó: gọi là đi dạo.

- Đi ăn của Ông Bà: đi địu

- Đói: nói là xót.

- Đồng hồ = đồng ảnh.

- Đường = đàng.

- Gà =  kê.

- Gạo = mễ.

- Gối = đầu kê.

- Heo rừng: gọi là con dũi.

- Hổ (cọp) = hảo.

- Khỉ = khởi, hoặc hón. Loài khỉ thường hay phá phách, đập chén bát, lục lạo nồi niêu, phải kiêng nể.

- Kiến: gọi là rát.

- Kỳ nam: gọi là hàng.

- Lạc đường: trong rừng sâu, trên núi cao, rất dễ bị đi lạc, phải dùng hai chữ lục xính (tiếng Quảng Đông).

- Lạt (trong mặn, lạt): nói là nhẹ.

- Lương: do trùng tên của Cậu Hai (Nguyễn Lương), nên chuyển thành lang (sông Hiền Lương = sông Hiền Lang).

- Ly (ly uống nước): nói là lơi, do sợ điều ly tán, chia lìa.

- Máu (bị chảy máu): gọi là mắm.

- Mặn (mặn, lạt): nói là nặng

- Mót trầm (đi mót): đi tìm lại gốc trầm cũ gọi là giũ rơm.

- Muối = diêm.

- Mưa = rơi.

- Ngủ lỡ đường giữa rừng: lạc đường về trại không kịp, phải ngủ trên cây để tránh thú dữ, gọi là ngủ khởi (khỉ).

- Nồi: gọi là niêu.

- Ong = con uông.

- Rắn, trăn = gọi là con dài, râu dài, hoặc ngựa Bà.

- Rít = râu ngắn, hoặc con tôm.

- Sạp ngủ: = cái đoan ( lót đoan, nằm đoan).

- Té (trợt té) = nhễu.

- Trăng (mặt trăng): gọi là nàng nàng (Đêm nay, nàng nàng sáng quá). Những từ con trăn, mặt trăng đồng âm với trăn trối, phải tránh né.

- Trầm; gọi là kiến.

- Tử: làm liên tưởng đến chết chóc, cho nên nói là trỗi hoặc trẫu.

- Về = trở (về nhà = trở chợ)

- Voi = ông Lớn

- Võng: gọi là cái đưa.

- Xa = khơi       

- Y: mỗi khi hàm ý so sánh, phải gọi là giống, vì kiêng tên Bà Thiên Y A Na.

Những người đi địu lâu năm còn nói rằng nghe tiếng chim kêu trên rừng có thể biết điềm lành dữ: 

- Nếu nghe tiếng con chim Chuông kêu “uông, uông” thì đó là tiếng báo hiệu canh giữ cửa rừng của chim Chuông, cho biết có của quý. Chim này thường kêu vào ban đêm.

- Nếu nghe tiếng con chim Nhang kêu “ tu oa, tu oa” vào giấc xẩm tối hoặc trước lúc rạng sáng là báo hiệu vùng quanh nơi ấy có mùi thơm của Bà ban tặng.

- Nếu nghe tiếng chim Lệnh dội vào vách núi âm vọng “thùng, thùng”, thường phát ra  từ 9 đến 11 giờ đêm thì đấy là tiếng “đánh trống”của chim canh giữ của rừng thiêng.

- Nếu nghe tiếng kêu từ trên thinh không vang ra “cà rắc, cà rắc” thì đó là tin báo có ông Ba, ông Bốn (cọp) đang đi tìm mồi.

Tất cả những loài chim (Chuông, Lệnh, Nhang) nói trên đều kêu vào ban đêm hoặc rạng sáng, rất ít người nhìn thấy....

6. CHUYỆN VỀ NGẢI, CHUỘC NGẢI VÀ NGẬM NGẢI TÌM TRẦM       

Trước hết, ngải là một loại cây thảo dược. Dân gian truyền lại rằng, giống cây này được các pháp sư, phù thủy nuôi trồng trong vườn, trước nhà. Có hai loại cây ngải. Một loại giống như cây riềng, và một loại tương tự như cây nén, cây hẹ. Đó là những loại cây có củ, được trồng và chăm sóc hết sức cẩn thận. Người nuôi ngải cho ngải ăn vào ban đêm, thức ăn thường là trứng gà, trứng vịt, cũng có khi là gà giò có lông đen, trói lại, đem bỏ vào giữa đám ngải. Khi ngải ăn, người ta nghe chúng phát ra những âm thanh “xào xào”. Sáng ra, chỉ thấy còn lông gà và vỏ trứng (?). 

Củ ngải được các pháp sư luyện phép, nên mang nhiều quyền năng thần bí, như làm cho người mắc ngải mê mẩn, nhớ thương, buộc phải đi theo. Muốn có ngải phải “chuộc ngải”. Không được gọi là mua, phải gọi là “thỉnh”. Các quán hàng ăn uống ngày trước cũng nuôi ngải trong nhà, để bán cho đắt!

“Ngậm ngải tìm trầm” là gói ngải cẩn thận trong lớp vải điều, mang theo trong người như vật “bất ly thân”. Ngải tìm trầm là loại ngải mách. Theo lời các cụ cao niên, ngải này để mách đường, chỉ hướng cho người đi đến chỗ có trầm!

Nghề khai thác trầm kỳ hết sức cam go, nguy hiểm! Chẳng vậy mà dân đi địu vẫn truyền tụng những câu chuyện huyễn hoặc về “ngậm ngải tìm trầm”. Xưa có người ngậm ngải tìm trầm đi mãi không thấy về vì bị lạc đường trên rừng núi hoang vu, phải ở luôn trong rừng, ăn trái rừng, uống nước suối, sống trong hang, gộp đá, gần gũi với một số loài thú, quên dần tiếng nói, lông trên người mọc dài ra, lâu ngày hóa thành con xà niên (người rừng). Bỗng một hôm trong cõi âm u sâu lắng ấy, người ngậm ngải nhớ đến quê nhà, tìm đường xuống làng, bị người dân tộc bắt gặp và đánh chết, cho là con thú hoang, khiêng về buôn ăn thịt! (Theo lời kể của các cụ cao niên trong nghề đi địu ở Vạn Giã). Những việc ấy thực hư thế nào, ngày nay mọi người không ai biết tường tận mà chỉ toàn nghe nói lại mà thôi!   

7. CÂY NHANG THƠM TỪ TRẦM HƯƠNG:

Trong những ngày Tết cổ truyền dân tộc, trên bàn thờ tổ tiên, ông bà không bao giờ thiếu mùi trầm ngào ngạt cùng với cây nhang thơm tỏa khói.

Xông trầm và đốt nhang là những nghi thức liên quan mật thiết đến đời sống tâm linh của người dân Việt từ xa xưa đến ngày nay. Cây nhang được thắp trong các chùa chiền, đền miếu, lăng tẩm... rồi dần dần đến rộng ra trong dân chúng, nhất là khi đạo Phật bắt đầu phát triển mạnh. Trong dân gian, xông trầm cũng là một cách để tẩy uế mỗi khi người dân gặp điều chẳng may trong việc làm ăn, buôn bán...

Ở Vạn Giã, Vạn Ninh có nhiều hộ làm nhang đã đến đời thứ tư. Trước đây,  trầm hương được dùng làm hương liệu chính trong việc ướp, se bột làm nhang thơm. Đó là phần vỏ giác bên ngoài của cây dó bầu hoặc phần dạt ra từ xung quanh, cận kề với chỗ kết tụ trầm, trong đó còn dính theo những sợi vân trầm màu đen (chính những sợi vân này sẽ tạo tăng thêm mùi thơm cho cây nhang) do người xoi trầm trong quá trình phá xác gọt tỉa ra được, đem xay bột làm nhang. Nhưng hiện nay, do giá cả trầm hương quá đắt, người ta dùng những hương liệu khác thay thế vào để giá thành mang tính phổ thông với khắp mọi nhà.

Trong khi xoi, xỉa, cào, tỉa, vỏ giác sẽ bám dính theo nhiều sợi vân trầm màu đen hoặc màu bợt, mảnh dẻ như đường chỉ, sợi tơ, người trong nghề gọi là “sợi trầm ăn theo ”. Hiện nay, giá sản phẩm này từ 180.000 đồng đến 200.000 đồng/ký, được người mua về nấu tinh dầu, chưng cất thành dầu trầm hương xuất khẩu. Phần còn lại của lõi cây dó, tức là trầm hương nguyên khối, mới đem bán hoặc dùng làm những mặt hàng mỹ nghệ.

8. TRẦM HƯƠNG MỸ NGHỆ:                                                    

Trong 8 thôn của xã Vạn Thắng huyện Vạn Ninh thì Xóm Đồn và Phú Hội là những thôn có nhiều hộ làm nghề trầm hương. Theo lời kể lại của các vị cao niên thì nghề khai thác trầm hương ở đây đã có từ lâu đời. Những người đầu tiên trực tiếp mua bán trầm kỳ với người đi địu là các ông Phúc Ky, rồi ông Ban Lạc tức Hàn Tú Kỳ người Hoa, thầy thuốc đông y nổi tiếng ở Vạn Ninh. Sau nữa có các ông Năm Be (Mai Be), bà Hường, ông Nhựt, ông Nghĩa Ệch, ông Ba Thương… Từ đó, người đi địu mới làm theo đơn đặt hàng, rồi tiến dần đến tạo mẫu mã, hình dáng, theo cấp loại, màu sắc hoặc theo thị hiếu khách hàng…

Tại Xóm Đồn có trên 90% số hộ có người làm nghề trầm kỳ. Nếu không đi núi khai thác thì cũng mua bán, nhưng nhiều nhất là gia công hàng trầm hương mỹ nghệ cho các gia đình chuyên mua trầm. Ngày trước có ông Chiêm, bà Đúng, bà Nghĩ, ông Sang, ông Tám Dương, ông Tiến (rể ông Chiêm), bà Thơm… Tiếp đến thế hệ bây giờ là gia đình các anh Hạnh, Khanh, Bình, Tài Chút, Đạt, Dũng,Vui, các chị Thu, Nga, Lan... Cả một xóm làm nghề, suốt ngày cặm cụi phá xác, xoi xỉa, chạm trỗ tỉ mỉ các thanh dó bầu, những khúc dó niệt, để lọc lõi trầm thành hạng nguyên chất, rồi từ đó làm nên tác phẩm nghệ thuật độc đáo.

Những người thợ xoi trầm ở đây hầu hết đều còn trẻ. Tiền công trung bình từ 20.000 đồng đến 30.000 đồng/ngày (thợ nữ), và từ 40.000 đồng đến 50.000 đồng/ngày (thợ nam). Nếu là công nghệ thuật thì cao hơn nhiều, có thể gần gấp đôi. Công việc liên tục quanh năm, suốt tháng. Như vậy, thu nhập tính ra cũng tương đối so với mặt bằng sinh hoạt ở nông thôn.

Nếu được dịp “mục sở thị” tại chỗ công việc của những người làm nghề xoi trầm, chúng ta mới thấy hết được sự tỉ mỉ và khéo léo của họ để có được một thanh trầm nguyên chất. Bước đầu tiên, những khúc dó bầu từ trên núi gùi về, người ta dùng rựa đẽo, chặt bỏ lớp vỏ ngoài cùng. Công việc này rất dễ, có thể dành cho những người mới tập làm quen. Tiếp theo là khâu phá xác. Trong khâu này, người thợ bắt đầu dùng các loại dũm: trung, đại,  tiểu để xoi, xỉa. Càng đi vào sâu càng cẩn thận, chi li, tỉ mỉ. Dân xoi trầm có câu: “Nhẹ nhàng cẩn thận ngón tay, Nếu như không khéo, sẽ bay áo trầm”. Gặp những chỗ ngóc ngách (chẳng hạn những mạch trầm dạng như trái khổ qua hoặc nhỏ tròn trịa như hột mít, cuộn mảnh mai như chiếc lá khô hoặc đường vân uốn lượn ngoằn ngoèo như hình con rắn…), người thợ phải dùng cây móc, còn gọi là cây cào để săm soi. Cần mẫn, chắt chiu như vậy mới làm nên được những thanh trầm vừa ý cho khách hàng. Về giá cả thì vô chừng nhưng cũng phải tính bằng bạc triệu. Bởi trầm hương rất nhiều loại, nhiều cấp độ khác nhau từ màu sắc, mùi vị, hình dáng, kích cỡ lớn nhỏ…

Sau khi có được thanh trầm nguyên chất, bấy giờ người thợ mới chuyển sang công đoạn chạm khắc, tạo dáng, lắp ghép… để biến khúc trầm hương thành một tác phẩm nghệ thuật. Đây là công việc hoàn toàn thủ công, chỉ dành riêng cho những nghệ nhân có tay nghề cao và óc thẩm mỹ. Đó có thể là một chú cún con dễ thương, một chiếc tàu buồm thời cổ đại, một con  chim đại bàng kiêu hãnh hay một dáng cây cổ thụ lồi lõm u bướu…, tất cả đều hiện ra từ những bàn tay điệu nghệ, sắc sảo, tài hoa của những người thợ làm trầm lành nghề và đam mê nghệ thuật.

Ở Vạn Giã có những tác phẩm trầm hương mỹ nghệ ra đời cách đây trên hai chục năm, nay vẫn được trân trọng trưng bày trong tủ kính của các gia đình. Giá cả phải tính bằng vàng cây, bởi vì ngoài chất liệu trầm hương quý hiếm, còn phải tính đến công sức nghệ nhân và giá trị nghệ thuật trên mỗi tác phẩm ấy.

9. NGƯỜI NAY ĐI ĐỊU:

Dân đi địu luôn quan niệm rằng: “Nhập gia tùy tục, nhập giang tùy khúc”, quý người thì được người quý lại, quý rừng thì rừng hậu đãi. Ngày xưa, các cụ “đi ăn của Ông Bà” luôn tâm niệm 3 điều: không được chặt phá bừa bãi, có kế hoạch bảo vệ cây dó để còn khai thác lâu dài và giữ chữ tín với nhà thầu (người thu mua). Sự ứng xử của các lớp người “dậm sơn” tiền bối tỏ ra ý tứ, tôn trọng tài nguyên đất nước biết bao, không như lối đi địu của thiên hạ thời nay là “đi chụp giựt”, người dân ham giá cao đổ xô vào việc đi khai thác trầm hương, bỏ cả sản xuất. Tất cả những cây dó bầu, dó gạch từ lớn đến nhỏ đều bị chặt sạch để tìm trầm. Cây dó đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng! Hiện nay, tìm được một vài cây dó bầu con còn sót lại trong rừng thật vô cùng khó khăn, mà nếu có thì những cây dó non này dễ chừng phải đến bốn năm chục năm sau hoặc lâu hơn mới có lại trầm kỳ. Đối với loại cây quý hiếm và có giá trị kinh tế cao này, không thể trông chờ vào sự phát triển tự nhiên của rừng mà phải tìm cách gây trồng thuần hóa nó. Trầm hương là sản phẩm đặc biệt của cây dó bầu, nhưng nó không phải là sản phẩm tất yếu như ở các loại thực vật khác để rồi cứ đến mùa vụ là thu hoạch. Trầm hương sinh ra từ cây dó bầu, nhưng không phải bất cứ cây dó bầu nào cũng cho ta trầm hương, thậm chí theo lời anh em đi địu cho biết, có những khu rừng dày đặc cây dó bầu, nhiều cây đã lớn nhưng không một cây nào cho trầm! Bởi vậy, song song với việc gây trồng, thuần hóa, phải đầu tư nghiên cứu để tìm ra quy luật hình thành trầm hương trong cây dó bầu và rút ngắn chu kỳ tạo trầm, đem lại nhiều trầm tốt. Đồng thời phải thấy rằng chu kỳ sinh trưởng của cây dó rất dài, có thể đến hàng chục năm sau khi gây trồng. Vì vậy, việc nghiên cứu đòi hỏi phải có sự kế thừa của nhiều thế hệ cán bộ khoa học để có thể đưa sự nghiệp này đến kết quả.

Mỗi xứ sở có một đặc sản tiêu biểu, đó là niềm tự hào của nhân dân địa phương. Khánh Hòa nói chung và Vạn Giã nói riêng đã từ lâu nổi tiếng là “xứ trầm hương”, nhưng nếu chúng ta không biết bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá này, không chủ động đầu tư để gây trồng thuần hóa cây dó bầu ngay từ bây giờ, không tái tạo lại nó, thì e rằng niềm tự hào đó ngày mai đây sẽ chỉ còn là vang bóng.

NMN - NKC

Xem tiếp Kỳ 3

 

Bài liên quan