QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

 

 

 

Trầm Hương Vạn Giã

Nguyễn Man Nhiên & Nguyễn Khoa Châu

Kỳ 3

 

10. TỪ VỰNG TRẦM HƯƠNG

Quê quán của cây dó bầu kết tụ nên hương trầm ngào ngạt là nơi “sơn man”, “đầu núi”, thể hiện qua câu hát xa xưa:

 “Trầm hương ở tận núi cao,

Gió đông nam thổi xuống, bộ lư nào cũng thơm”.

 Những đỉnh núi cao ấy thật không dễ dàng tìm đến. Trong bước đường gian truân “ngậm ngãi tìm trầm”, có khi ông cha ta phải “lục xính” (lạc đường) đến nỗi “hóa ngãi thành ri” (người rừng)! Sự rủi ro, điều may mắn của người đi núi ngày trước hoàn toàn dựa vào tâm linh, “nằm điềm”, mong nhờ “Ông, Bà, Cô, Cậu mách bảo”. Vả lại, cho dù nghề gì đi nữa cũng có những kiêng cữ theo phép tắc, quy định riêng. Những điều ấy có thể phát nguyên nơi tổ nghiệp hay kế tục liền dòng từ thời khai cơ mở đất. Nghề đi địu tìm trầm “hưởng lộc mùi thơm của Bà”, do những quy định bất thành văn, mà ông cha ta đã tự tìm cho mình những từ ngữ riêng dùng trong công việc hoặc phải tìm cách nói lệch sang một từ ngữ tương đương khác (dân gian gọi là nói trại) nhằm mục đích tránh né, sợ điều “phạm húy”, hầu để tôn vinh hoặc cầu mong “điều lành đem đến, việc dữ lánh xa”. Chính vì thế nghề trầm kỳ đã phát sinh nhiều thuật ngữ vô cùng lý thú.

 - Ă - Â

- Am Sơn: tên gọi của đội khai thác trầm hương được thành lập dưới triều Nguyễn, hằng năm cứ tháng Hai thì đi tìm kiếm, tháng sáu thì trở về.

- An Thành: tên gọi của một xã thuộc huyện Tân Định (nay là huyện Ninh Hòa, Khánh Hòa), người dân nơi đây hằng năm đi kiếm trầm kỳ nộp cho triều đình.

- Áo trầm: phần vỏ, dác, mặc sát bên ngoài của trầm.

- Ăn của rừng: chỉ việc đi tìm trầm hương đầy gian nan, khó nhọc: “ăn của rừng, rưng rưng nước mắt”.

- Ẩn xanh: màu của trầm loại tốt, “xịn”, có sắc “huyền ẩn xanh”, bóng, tuơng tự như màu bánh ít lá gai.

B

- Bà: chỉ Bà Thiên Y A Na (còn gọi là Bà Chúa Ngọc), vị phúc thần của cả người Chăm lẫn người Việt, ban hưởng lộc “mùi thơm”.

- Bài: một dụng cụ làm bằng tre, nứa, giống như chiếc gùi, nhưng lỗ nan được đan thưa theo hình vuông chéo. Người đi địu nói là hình con bài xì rô.

- Bàn cúng: là những bàn bằng đá núi, đá suối, gồm cả thảy 5 bàn (bàn Bà, bàn Cậu Hai, bàn Ông Chúa, bàn Tam cõi hội đồng, bàn Sơn thần thổ địa). Mỗi bàn, lại kèm theo hai bàn hai bên, gọi là bàn “tay chân bộ hạ”. Như vậy có tất cả 15 bàn. Người đi địu kiếm tìm đá tại nơi sơn lâm, lấy lá rừng làm đĩa, để sắp trưng bày, đặt trên các bàn đá ấy, mà dâng lễ thần linh.

- Bay áo trầm: cách diễn đạt chỉ người làm trầm không khéo tay, thiếu nhẹ nhàng, không cẩn thận, sẽ làm “bay áo trầm hương”.

- Bắp chuối: Gọi theo hình dạng đối với kỳ nam (hàng), kết tụ khối đặc, nặng, đẹp.

- Bầu:  tên gọi chỉ một đoàn, một nhóm làm trầm. Số lượng người cùng đi trong một bầu có thể là chẵn hoặc lẻ, nhưng không được 5 người (sợ trùng với ngũ quỷ).

- Bị: có hai nghĩa khi sử dụng. Nếu là “bị” theo ý “mắc phải” thì chuyển đổi thành “bợi”. Nếu để chỉ “cọp” (hổ) thì được gọi là ông Ba, ông Bốn, ông Thầy.

- Bợt: chỉ màu sắc, có nghĩa là bạc, hơi trăng trắng.

- Buộng: bộng trong ruột trầm, có lỗ hổng, trống, có thể nhìn thấy được.

C

- Cắm quẻ coi giò: Chọn ngày lành đi núi: “Ở nhà cắm quẻ coi giò, Dọn ngày sạch sẽ, ông bà cho của tiền. Lên đây là chỗ đất thiêng, Ngày rằm bá sự kỵ, cử kiêng chốn lâm rừng”.

- Cắt rừng : Đi đường tắt xuyên qua rừng rậm, không theo đường mòn

- Cây móc trầm: Một dụng cụ dùng làm phương tiện để móc những sợi dác trầm, màu trắng, nằm sâu trong các kẻ bên trong.

- Cậu Hai: Để chỉ tên ông Nguyễn Lương, một trong “Quảng Phước tam hùng”, nhân vật được dân địa phương rất tôn kính. Mỗi khi vái cúng ở trong gia đình, cũng như nơi núi non…đều có đặt một bàn riêng. Lễ vật gồm rượu, miếng tợ ba sườn heo, hai trứng vịt, hai con ghẹ.

- Chành: mở miệng cây dó bầu (chành mặt trên, chành mặt dưới), “hễ có chành, mới có trầm”. Tuy nhiên, nếu không do con người chành, cây dó bầu cũng có thể tạo trầm bởi nhiều nguyên nhân, như bị bão tố ngã đỗ nhánh, bị mẻ bom, kiến đục…

- Chão lót: chỉ núi Hòn Chão, nằm về phía tây nam huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.

- Chích lưng: Khi đốn cây dó bầu, cần mở rộng mặt trước, đồng thời sau đó, phải “chích lưng”, tức là chặt về phía sau thân cây, đối xứng phía mở mặt trước, cây dó sẽ ngã đổ dễ dàng.

- Chim Chuông: Một loài chim mà theo dân đi địu cho biết, khi nghe tiếng kêu “uông-uông” là biết vùng ấy có trầm.

- Chim Lệnh: Tiếng kêu phát ra âm thanh dội vào vách núi “thùng thùng”. Tiếng chim báo hiệu có người lạ, cũng đồng thời cho người đi địu biết là vùng núi quanh nơi này có “mùi thơm” của Bà. Theo quan niệm người đi rừng, Chim Lệnh là chim canh giữ, gác cửa rừng.

- Chim Nhang: Phát tiếng kêu “túc túc”, cũng là báo có người lạ mặt, đồng thời cho người biết tín hiệu trầm kỳ.

- Chồng chuyến: Khi hết lương thực nhưng không về nhà mà xuống làng, xuống chợ hoặc vào bản gần đó mua thực phẩm để dùng cho chuyến nối tiếp.

- Chúa thượng đường rừng: Ông cọp (tên gọi trong bài cúng).

- Chuyến núi: Một chuyến đi rừng, tìm trầm.

- Cội kỳ: Gốc kỳ nam: “Phút đâu nước lụt trôi qua cội kỳ”.

- Cơm: chỉ phần trong cây dó, gần sát với chỗ có trầm, nhưng lại không có trầm. Chỗ này lấy ra để xay bột làm nhang.

- Cúng hạ ban: Dâng lễ tạ ơn tại nhà, sau khi đã hạ sơn xuống núi và trúng nhiều “mùi thơm” của Bà cho.

D, Đ

- Dách lầu: Tiếng Quảng Đông, có nghĩa là số một, số “dách”, để chỉ các loại trầm tốt nhất như kiến xanh, tốc bông.

- Dạt xác: Gọt bỏ dần phần vỏ bên ngoài.

- Dậm sơn: Dạo núi tìm cây dó.

- Dính rượng: Khi đổ dó, cây dó bị ngã dính vào các dây rừng chằng chịt, như rượng lưới đăng.

- Dó: Cây dó có thân suông, mọc thẳng tương tự như cây gòn. Vỏ cây dó có thể tước chạy được, mùi vị cảm nhận nghe ngót ngót. Lá dó bóng sáng, nhỏ, giống như lá khế, màu xanh mướt. Dó sống liên cư, mọc đứng cạnh gần nhau. Có nhiều loại cây dó và không phải bất kỳ cây dó nào cũng tạo thành trầm hương.

- Dó bầu: loại cây dó cho trầm tốt và kỳ nam: “Lâu ngày dó cũng thành kỳ, Đá kia lăn lóc cũng có khi thành vàng” (Hát huê tình).

- Dó dây: mặc dầu có dạng cấu thành giống như trầm nhưng không có mùi thơm gì cả.

- Dó duốt: để chỉ những cây dó chưa mở miệng. Bên ngoài vỏ “trơn lu bạch tuột”, không có nổi u bướu, không có dấu hiệu trầm hương khi nhìn bên ngoài.

- Dó gạch: còn gọi là dó niệt. Dó gạch cũng cho trầm nhưng mùi thơm nồng, hắc, có vị tanh và giá trị thấp.

- Dó lưỡi trâu: Một loại dó kết thành “khổ trầm”. Chữ “khổ” nghĩa là lâu năm.

- Dó me: Gọi theo dạng đường vân kết thành trầm hương.

- Dó sồi, dó xủ: Màu sẫm hoặc sắc trắng.

- Dó tứ quý: Loại dó này chỉ có ở núi vùng cao thuộc tỉnh Quảng Nam, đuôi lá nhọn, và lá nhỏ hơn các loại cây dó khác.

- Dời trại: chuyển trại đến một nơi mới.

- Dớt: Động tác dùng dũm để dớt xác, nạo cào vỏ trầm.

- Dũm: Dụng cụ dùng để xoi, xỉa trầm (dũm đại, dũm trung, dũm tiểu). Cây dũm có độ dài từ 3 đến 4 tấc tây. Cán dũm có dáng tròn, vừa vặn nắm tay cầm, làm bằng gỗ. Phần thân dũm còn lại bằng thép cuốn tròn, ruột rỗng. Mũi dũm dài độ bằng ngón tay trỏ của người lớn, có hình lõm xuống như một đường mương. Chính nhờ mương này mà các vỏ - giác của khúc dó bầu dễ dàng theo ra khi xoi xĩa.          

- Dưng lễ: Cúng núi sau khi dựng trại xong.

- Dựng trại: làm trại, dùng chỗ nghỉ ngơi, làm trầm. Việc đầu tiên khi dựng trại là chọn cây đòn dông, đường kính  tương đương 20cm, dài hơn 3m. Không được để  nằm dưới đất mà phải dựng đứng (tránh không được sơ ý bước qua). Chặt 4 cây trụ cột, dài từ 2m5 đến 3m, trên đầu chừa ngạnh cháng hai để làm thế giữ vững cho cây gác ngang qua. Chặt 7 cây rui, vài bó mè. Ngày trước lợp trại bằng bẹ đát. Từ đầu thập niên 1950, lợp bằng nhựa. Trại làm một mái, xuôi về phía sau. Mặt trước che mỏ quạ, chung quanh che bằng tàu đát. Diện tích trại rộng vào khoảng 7 - 8m2, có chái bếp riêng. Chặt cây làm đoan, lót, kê nằm nghỉ ngủ.

- Dương: Triền dốc núi (trên dương, dưới dương).

- Dưỡng thân: Dưỡng thân cây dó sống mãi lớn, tươi tốt về sau, đăng lấy trầm: “Mở miệng, thì phải dưỡmg thân”.

- Đày: Tương tự như giàn giáo của thợ nề. Ngày trước, người lấy trầm làm giàn, tựa vào thân cây dó bầu, đứng lên đó dùng rìu rựa, chỉ phá đoạn có trầm rồi lấy ra “hộp trầm” mà thôi, còn vẫn giữ nguyên thân cây dó. Nếu thấy u bướu hoặc kiến đục ở vị trí quá khỏi tầm tay, họ làm thêm một đày nữa. Có thể ba hoặc bốn đày. Càng lên cao, đày càng làm thấp lại cho vững vàng. Không như lớp trẻ bây giờ, hễ gặp bất cứ cây dó nào, không kể lớn bé cũng đốn ngã tiệt luôn!

- Đi địu (= đi núi): Mang gùi, bài đi kiếm trầm hương: “Đi địu là nghề của tui, Cái rựa, cái gùi tui vác trên vai”. Ngày nay, người đi địu mang ba lô gọn nhẹ, thuận tiện hơn.

- Đi một rựa: Đi một hơi tới chỗ, cây rựa luôn vác trên vai, không nghỉ nửa chừng.

- Đoan (lót đoan): Cái sạp làm bằng cây rừng, kê lót nằm ngủ.

- Đổ cây dó: Đốn, hạ ngã các cây dó bầu, dó niệt: “Đổ bên miệng, chích bên lưng” (các thao tác khi đốn cây dó).

G

- Gặp rắn thì đi, gặp quy thì về: Câu ngạn ngữ xưa, kiêng cử việc đi núi. Thế nhưng ngày nay câu này không những không còn phù hợp, mà ngược lại, người ta cho đó là điều lợi.

- Gân núi: Đường chân núi làm chuẩn, làm dấu, phòng khi lạc. Người đi rừng nhìn hướng núi tìm về.

- Giác hương: vỏ trầm.

- Gộp: Hang đá

- Gùi: mang trên lưng: “gùi bắp, gùi lúa”, hoặc giỏ chứa đồ dùng người đi núi thường mang trên lưng: “địu gùi”.

H

- Hạ sơn: Xuống núi, trở về.

- Hàng hổ: Kỳ nam có vân rằn sọc, thoạt trông như da cọp.

- Hàng ngang: Một cách gọi tên khác của hàng hổ, vì hàng này ăn ngang trong thân cây dó bầu. Xưa gặp hàng hổ, hàng ngang, các cụ cho là xui xẻo, vì sợ gặp cọp. Ngay cả người mua cũng không dám. Ngày nay, dân đi địu hoặc người mua trầm kỳ khi gặp “ hàng hổ” thì xem là bình thường.

- Hàng làm: Tạo trầm hương có màu sắc, vân trầm đẹp, một kiểu trong kỹ thuật “làm nước”, rờ tút (retoucher”).

- Hóa ngãi thành ri: Người ngậm ngãi tìm trầm lâu ngày, ngãi bị hóa giải, hóa thành “người rừng”.

- Hòn Chão: ngọn núi nằm phía Tây Nam huyện Vạn Ninh. Mặt lõm, có ba phía núi non: Chão nhứt, ở mặt trước, Chão nhì ở mặt sau và Chão ba (bao gồm Hòn Dữ, Đá Bàn), liên sơn đến Suối Thơm, giáp ranh giới với tỉnh Phú Yên.

- Hộp kiến, hộp trầm: Một tên gọi theo hình dáng về kỹ thuật lấy hộp trầm. Sau đó, đem về dớt, dạt, phá xác để có thanh trầm nguyên.

- Huyền ẩn xanh: Màu sắc của loại trầm hảo hạng, tương tự màu bánh ít lá gai.

- Hưởng lộc mùi thơm: được lộc của Bà cho.

- Ình: Nằm nghỉ: “xóc xóc rồi lại nằm ình” (ăn rồi nằm nghỉ).

K

- Kiến dách lầu: Trầm tốt nhất.

- Kiến đen đụp: còn gọi là Kiến tà ha, loại này chỉ có trầm ăn hai đầu, ở giữa toàn là “cơm”.

- Kiến điệp: Loại trầm gọi theo tính chất mềm, nhẹ.

- Kiến gai: Còn gọi là kiến gậy trưởng lão, cũng có tên là kiến ông hoặc kiến gậy nam cực tiên ông. Loại trầm do kiến ăn giữa ruột cây dó.

- Kiến kim: Gọi theo hình dáng, đường vân nhỏ, dẹp, mảnh mai.

- Kiến lỗ: Loại trầm do kiến ăn theo hang, lỗ.

- Kiến trắng: Gọi theo màu sắc. Loại trầm này có giá trị thương mại cao.

- Kiến xanh: Loại trầm có màu xanh ẩn huyền, tương tự màu bánh ít lá gai, kết thành khối đặc, tinh dầu nhiều, dày. Kiến này thuộc hạng “kiến dách lầu”.

- Khổ trầm: Để chỉ loại trầm được kết tụ từ cây dó lưỡi trâu. Chữ “khổ” ở đây nói về  thời gian lâu năm kết tụ.

- Kỳ nam: Thường gọi là hàng, giá trị cao hơn trầm hương rất nhiều.

L

- Lá đèn: Một loại lá giống như lá chằm nón. Tại núi, người ta cắt vuông vức tạo thành chén đựng xôi, chè, đặt trên bàn đá, dưng lễ cúng.

- Làm cạnh: gọt, tỉa gọn cẩn thận chỗ có trầm trên thân cây dó.

- Làm hàng: Nói chung về các công việc làm trầm, tạo thành sản phẩm.

- Lấy cạnh: Sau khi làm cạnh, từ từ lấy hộp trầm ra ngoài.

- Lấy mặt nhang: Lấy phần thân.

- Lấy mặt thốn: Lấy phần rễ.

- Liên cư: Đặc tính của các cây dó, mọc thành đám, liền sát bên nhau.

- Lộc: Hửởng ơn phước lộc (trầm kỳ) của Bà cho.

M

- Mé: Dùng rìu, rựa chặt một bên hông cây dó.

- Mở luồng: Mở miệng cây dó theo một luồng đi riêng. Đây cũng là cách làm dấu để nhớ theo sáng kiến của mỗi người.

- Mở miệng: Dùng rìu hoặc rựa tạo thành “cái miệng” trên thân cây dó để lâu năm về sau cây sẽ kết thành trầm. Theo kinh nghiệm, không nên mở quá tỷ lệ 4/6 đối với cây dó, tốt nhất là 3/7 vì “mở miệng, phải dưỡng thân”. Nếu không được con người “mở miệng” thì cây dó vẫn có thể tạo trầm từ nhiều nguyên nhân khác như bị kiến đục, gãy đổ…

- Mùi thơm (hưởng mùi thơm của Bà): để chỉ kỳ nam, trầm hương hạng đặc biệt.

N

- Nằm điềm: Các cụ trưởng bầu ngày xưa đi núi, mỗi khi cảm thấy mệt, buồn ngủ là bảo đám đệ tử lót đoan, làm chỗ nằm nghỉ, hy vọng chờ báo điềm lành, mộng thấy Bà kêu cho. Do đó, một chuyến núi kéo dài rất lâu ngày.

- Ngãi: củ ngãi, bùa ngãi.

- Ngãi mách: ngãi có thể mách cho người biết được mọi điều cầu xin, ước muốn.

- Ngậm ngãi tìm trầm: Ngậm có nghĩa là cẩn trọng gói, bọc ngãi vào trong miếng vải điều, mang trong người như vật bất ly thân, hy vọng nhờ đó người đi địu có đủ sức khỏe và sự may mắn trong khi đi núi. Cũng có ý chỉ sự gian nan, vất vả của người đi tìm trầm ngày trước.

- Nhứt bạch, nhì thanh, tam huỳnh, tứ hắc: Tiêu chuẩn phân loại trầm kỳ theo màu sắc: trăng trắng, ẩn xanh, vàng bợt và xám đen.

- Nhứt kỳ, nhì kiến: Kỳ chỉ kỳ nam. Kiến chỉ các loại trầm.

- Núi khơi:  Núi xa ngoài tỉnh.

- Núi nhà: Núi trong tỉnh Khánh Hòa.

Ô

- Ông Ba, ông Tư, ông Thầy: Ám chỉ cọp.

P

- Phá xác: Công đoạn đầu tiên của việc xoi trầm.

S

- Sánh (lột sánh): chỉ đoạn cây dó nằm giữa vạch mở mặt thốn (gần dưới gốc) và vạch mở mặt nhang (phần ở thân). Cả hai vạch này là dấu mở miệng (chành) của lớp người đi trước. Tại đoạn này, dùng rìu mở dần vào bên trong. Bề mặt của bên trong này gọi là sánh. Lần lượt làm cạnh, lấy cạnh để có thanh trầm.

- Sáng núi : Nhớ rõ các lối đi trên rừng mỗi khi qua. Nhìn hướng núi, biết rành rẽ.

- Sắm chuyến: Chuẩn bị lương thực đầy đủ cho chuyến đi.

- Sơn lâm chúa tướng: Ông cọp.

T

- Thượng sơn: Lên núi.

- Tốc bánh canh: Vân trầm có màu sắc đậm nhạt chạy dài.

- Tốc bông: Loại tốt, trầm ăn có đường vân theo dáng đẹp.

- Tốc cá ngừ: Có nhiều khoanh tròn đồng tâm, màu sẫm xám.

- Tốc da: Trầm ăn thấy rõ bên ngoài .

- Tốc đá: Màu đen sẫm, cứng. Kiến tạo vân giống như tán đường Dinh làm tại lò đường Xuân Tự ngày xưa.

- Tốc lọ: Màu đen tương tự lọ nồi.

- Tốc lưới: Có dạng chằng chịt như mắt lưới đánh cá.

- Tốc nước: Áo trầm thoảng đen, mềm, ngoài mỏng, trong có màu vàng nhạt, mùi thơm dịu dàng.

- Tốc ớt: Có mùi hăng, nồng, màu vàng bợt.

- Tốc phao: Nhẹ, thả xuống nước thì nổi mùi thơm thoang thoảng dịu.

- Tối núi: Trái nghĩa với sáng núi. Có nghĩa là không rành đường, rành núi, cho dù đã đi nhiều lần tại vùng núi ấy hoặc các núi khác. Có nhiều người không thể nhớ, nhận dạng đường rừng.

- Tôn nhĩ linh thần: Tên ông cọp khi vái cúng. Người xưa truyền lại rằng cọp rất thính “tai nghe nghìn dặm”, nhưng lại rất mau quên. Trên đường đi, mỗi khi nghe bất cứ tiếng động gì, cũng giật mình quên tuốt hết.

- Tống mặt nhang: Động tác để chỉ công việc sau khi dạt vỏ, lột sánh, thì tóng mặt nhang, theo hướng phía trên tống xuống.

- Trầm hột mít: Gọi theo hình dáng.

- Trầm khẹ: Để chỉ những thanh trầm do dấu con voi đạp lên, hoặc có thể do đá lăn qua,  chân thú rừng để lại dấu vết.

- Trầm mặt thốn: Ở gần mặt dưới của gốc cây dó.

- Trầm mắt đảo: Có vân trầm hiện ra bên ngoài theo hình nổi “cù lao”.

- Trầm mắt tử: Còn gọi là trầm mắt trẫu (trẫu nghĩa là chết), kết vân trầm theo dáng lõm.

- Trầm mặt nhang: Trầm kết tụ từ giữa thân cây dó.

- Trầm mặt rễ: Trầm kết tụ ở phần rễ. Loại này rất tốt.

- Trầm ổ qua: Mạch trầm ăn theo dạng hang, ổ, ngóc ngách.

- Trầm rục: Những thanh trầm nguyên chất còn lại sau khi vỏ ngoài của cây dó bị rục, vữa, do mưa lũ, nước xoi…

- Trầm sô: Để chỉ chung các loại trầm chưa phân loại.

X

- Xoi - xỉa (tỉa): Xoi sạch xác, vỏ, dác và tỉa gọn gàng, làm đẹp thành phẩm.

- Xở rượng: Khi đổ cây dó, vướng vào các nhánh dây, nhành cây chằng chịt./.

NMN - NKC

 

Bài liên quan