QUI KHUYEN HOC NINH HOA

 

HOME

TRANG VĂN

TÁC GIẢ

 

 

 

 

TÁC PHẨM

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chuyện kể dân gian NINH PHỤNG

VÕ TRIỀU DƯƠNG & NGUYỄN VIẾT TRUNG

Chuyện Nợ bánh đúc trả tiền vè

Ông Đặng Văn Đức người làng Điềm Tịnh sanh năm 1785 con nhà nghèo nhưng sáng dạ, ông chỉ được học hành thông suốt chữ nghĩa kinh điển, chứ không đủ điều kiện học cao để thi Hương.

Thuở nhỏ học chữ Nho tại làng, sau được cha mẹ cho sang làng Quang Đông cách Điềm Tịnh con sông Lốt, học thêm tại nhà thầy đồ người bà con. Thường ngày đi học ngang qua quán bánh đúc của một bà già cùng làng. Ban đầu trong túi có vài đồng điếu cậu ta thỉnh thoảng ghé vào ăn sáng, sau dần dần thành thói quen. Những lần sau ăn bánh trả tiền thì ít mà mắc nợ thời nhiều, nghe cậu hẹn nay hẹn mai sẽ trả, bà quán thấy thằng nhỏ tội nghiệp nên cũng vui lòng cho thiếu. Dần dà nợ bánh đúc từ  1 điếu đến mười xu, khi nghỉ học cậu ta không có tiền trả nợ nên “lặn” luôn.

Tết năm đó làng Quang Đông có hội đánh bài chòi rất nhộn nhịp, làng Điềm Tịnh cũng tổ chức hát bội nhưng coi hát suốt ba ngày đâm chán, cậu muốn lội sông sang làng Quang Đông coi hội bài chòi. Nhưng một trở ngại lớn mà cậu rụt rè chưa dám quyết định xuất hành trong sáng ngày mùng bốn tết, đó là món nợ bà quán mười xu bánh đúc. Đi ngõ nào đây cho khỏi qua nhà bà quán? Sau rồi bụng bảo dạ: “Nợ đã ba bốn tháng, bà già ấy chắc quên”. Thế là sáng ngày mùng bốn tết cậu mạnh dạn “quá giang phó hội”.

Rủi thay kiến bò miệng chén, cậu vừa đến ngang nhà bị bà quán thấy được, đi ra chận đòi nợ. Bà đâu có quên mười xu, một hai điếu có thể quên được, chứ mười xu bà phải bán đến một hai ngày mới đủ sở hụi. Vả lại trẻ nhỏ đứa nào ngày Tết  ít nhiều gì cũng có tiền - bà nghĩ vậy - dù thu nợ lại không đủ số vẫn còn hơn là thả tiền trôi sông.

Thật tình cậu Đức trong ba ngày Tết không có một xu teng trong túi. Đang lúng túng chưa biết làm cách nào thì ông chồng bà quán ra bảo: - Hãy dẫn nó vô đây. Cậu càng sợ hơn nữa, nếu chuyện này lọt đến tay chủ dú (cha mẹ) thì sau Tết cũng bị ăn đòn. Ông chồng bà quán có học thông chữ Nho, vốn biết cha mẹ cậu bên làng Xuân An (tên xưa của làng Điềm Tịnh), thấy vợ mình đòi nợ học trò nghèo kiểu này cũng hơi quá đáng, không khéo sẽ mích lòng người lớn, nhân ngày đầu xuân ông có ý hoá giải cho qua chuyện. Vào nhà ông cười cười bảo cậu Đức ngồi trên ghế và hỏi:

- Học trò mấy tuổi, chữ Nho viết đến hạng mấy?

Cậu không dám ngồi, đứng rụt rè thưa:

- Năm nay cháu 14 tuổi, viết được hạng năm.

- Viết hạng năm thì Tam Thiên Tự mặt chữ thuộc nằm lòng, viết chữ chắc không thiếu một nét, vậy mà ăn bánh đúc lại thiếu nợ. Tao nghe bên xã Xuân An tráng đinh và học trò giỏi đố chữ chiết tự bằng vè, bây giờ mày muốn xoá mười xu nợ bánh đúc thì diễn đủ mười chữ bằng thể ngũ ngôn cho tao nghe, nếu thiếu chữ nào thì phải trả tiền cho chữ đó, chữ nào diễn sai không tính.

Bà vợ nghe qua không chịu, bà nhất định đòi cho bằng được và rổn rảng nói:

- Nghe nó đố diễn chữ thì mùng bảy hạ nêu sẽ té thêm ra mấy nồi bánh đúc?

Nhưng ông trừng mắt bảo vợ:

- Ngày xuân đòi tiền không bằng đòi chữ, một chữ Thánh bằng một gánh vàng, nếu nó làm không xong thì đòi cũng chưa muộn.

Bị chồng ép, bụng bà tức anh ách, đang ngày đầu năm phu đã xướng thì phụ phải tuỳ, bà  mặt nặng mày nhẹ bỏ xuống  nhà dưới. Đoạn ông quay sang bảo cậu Đức:

- Mày diễn chiết tự ngũ ngôn, tao cho độc vận chữ chung là cái chén uống rượu trên bàn đây, không được mượn vận ông, sau khi tao hút xong hai điếu thuốc thì chung cuộc.

Cậu Đức lại hỏi vặn:

- Nếu cháu diễn hơn mười chữ thì sao?

Ông chủ nhà ngạc nhiên khi nghe thằng nhỏ hỏi, biết nó có thông minh, ông bèn giao kết:

- Thiếu một chữ tao đòi một xu, dư một chữ thưởng cho nửa xu.

Cậu dạn dĩ ngồi vào bàn cầm bút mực vừa suy nghĩ vừa viết:

Thiên lý trọng kim chung

Điền nhựu ngu hiệt ngung

Qua qua tiên ngọc trản

Khúc thìn nông hoà nùng

Độc tả ngưu  khứ mại

Thượng lâm hạ thủ tùng

Lý dư đã thổ thự

Mộc đính tòng vi tung

Dậu thời tinh hiện tỉnh

Huyệt thân cung hiệp cùng

Tả âm hữu viên vận

Thập bát công thị tùng

Mộc thị nại đãi lệ

Mộc biên xuân viết thung

Bát đao phân mễ phấn

Lập lí đồng kim chung

Hoả nhất khẩu điền phức

Sơn thượng tông hạ sùng.

Điếu thuốc thứ hai chưa tàn, thì cậu Đức đã làm xong bài ngũ ngôn chiết tự, không chỉ mười câu mà có đến mười tám câu chiết tự mười tám chữ, tự dạng vần điệu rất chuẩn. Đọc qua ông già vỗ vai khen vùi, giao kết mười xu nợ bánh đúc năm ngoái được xoá, ông không ngờ thừa ra tám chữ nên phải thưởng cho cậu Đức bốn xu. Cậu không dám đánh me nữa mà vội đem về khoe với chủ dú và xóm làng.

(Cách chiết tự bài trên như sau :

Bốn chữ: thiên, lý, trọng, kim ghép thành chữ chung

Bốn chữ: điền, nhựu, ngu, hiệt ghép thành chữ ngung

Hai chữ: qua, qua ghép thành chữ tiên, ghép thêm chữ ngọc thành chữ  trản.

Hai chữ: khúc, thìn ghép lại thành chữ nông, ghép thêm chữ hoà sẽ thành chữ nùng.

Bên trái chữ độc mà bỏ đi chữ ngưu thì ra chữ mại.

Trên chữ lâm dưới chữ thủ đó là chữ tùng.

Hai chữ lý và dư ghép lại thành chữ dã, ghép thêm chữ thổ sẽ thành chữ thự.

Chữ mộc kết với chữ tùng thành chữ tung.

Giờ dậu hiện chữ tinh thành chữ tỉnh.

Ba chữ huyệt, thân, cung hiệp lại thành chữ  cùng.

Bên trái chữ âm bên phải chữ viên đó là chữ vận.

Hai chữ thập và bác ghép lại thành chữ mộc, ghép thêm chữ công vào sẽ thành chữ tùng.

Hai chữ mộc và thị ghép lại thành chữ mại, ghép thêm chữ đãi vào sẽ thành chữ lệ.

Chữ mộc đứng bên chữ xuân gọi là chữ thung

Hai chữ bát và đao ghép lại thành chữ phân, ghép thêm chữ mễ vào sẽ thành chữ phấn.

Hai chữ lập và lý ghép lại thành chữ đồng, ghép thêm chữ kim vào sẽ thành chữ chung.

Bốn chữ hoả, nhất, khẩu, điền ghép chung lại thành chữ phức.

Chữ sơn ở trên chữ tông ở dưới đó là chữ  sùng.)

Triều Thiệu Trị (1840-1848) tuổi gần lục tuần, ông Đặng Văn Đức làm đến Chánh tổng Hiệp Trung huyện Tân Định (Ninh Hoà).

Cũng bởi có giai thoại này nên thời nhân quanh vùng đã làm các câu vè truyền khẩu, ngày nay một số cụ già vẫn còn nhớ:

Có học ăn trước cỗ đình

Không học phải chịu đứng rình nhìn lên

Có học ăn trước ngồi trên

Không học bụng đói dựa bên hè đình

Có học chữ lận lưng mình

Không học thì phải dọn bàn bắt heo

Có học làm xã làm hương

Không học thì phải gát thương làm trùm

Có học mắt sáng thính tai

Không học như thể cả hai điếc mù

Một chữ Thánh bằng một gánh vàng

Ai mà không học như đàn không dây.

VÕ TRIỀU DƯƠNG & NGUYỄN VIẾT TRUNG

VỀ TRƯỚC

 

Mọi thông tin về Website xin gởi đến webmaster@ninhhoatoday.net