QUI KHUYEN HOC NINH HOA

 

HOME

TRANG VĂN

TÁC GIẢ

 

 

 

 

TÁC PHẨM

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Cung Đàn Xưa - Người Nghệ Sĩ Ðường Luồn Cây Thị

Đường Du Bình

Tiếng đàn Độc Huyền Cầm ngân nga mùi mẩn chấm dứt bản Bạc Liêu Mến Yêu của Nhạc Sĩ Thanh Sơn khiến tôi nhớ đến một nghệ sĩ vang bóng mấy mươi năm trước ở quê tôi.  Mặc dầu quê tôi lúc đó có nhiều người biết chơi đàn cổ nhạc, nhưng chỉ có ông ta là người biết dùng cây độc huyền cầm duy nhứt trong thị trấn. Ngoài cái tài đờn ca, ông còn có lòng can đảm vì dân tộc,  cho đến ngày nay tại quê tôi, chưa có một ai thay thế vai trò của ông ta, người mà tôi muốn nói đây là ông Mười Lực ở Đường Luồn Cây Thị tại thị trấn Ninh Hòa. Ông Mười ca hát hay và ăn nói vui vẻ được mọi người trong Thị trấn cảm mến gọi ông  bằng "Chú Mười" rất là thân mật.    

Thị Trấn Ninh Hòa, nằm trên Quốc Lộ 1A cách thành phố Nha Trang khoảng 30 cây số về phía Bắc. Ninh Hòa ngày xưa bao quanh bởi bốn chiếc cầu; Cầu Sắt và Cầu Dinh bắt qua sông Dinh nằm bên trái, bên phải có hai chiếc cầu nhỏ là cầu Trạm và cầu Gỗ, hai chiếc cầu nhỏ này đã biến dạng sau 1975. Phố xá Ninh Hòa chạy dài trên Quốc lộ 1A khoảng hai cây số, mang tên đường Trần Quý Cáp. Chợ Dinh nằm ngay giữa bốn dãy phố bao vây, ở một gốc phố chợ trên đường Trần Quý Cáp có một con đường nhỏ hẹp gọi là Đường Luồn Cây Thị, cuối con đường luồn này là nhà của chú Mười Lực ở mấy mươi năm trước.

Chú Mười Lực là em của Cô Sáu Ngôn ở Đường Luồn Cây Thị, khi tôi biết chú Mười thì chú còn trẻ, mù đôi mắt, không vợ, không con, độc thân ở chung nhà với cô Sáu. Thân hình của chú rất là mỏng manh, tôi nghĩ một thoảng gió Lào thổi xuống có thể làm cho chú nghiêng ngã như chiếc lá bàng bên hông chợ. Nhà chú Mười và nhà tôi đâu đít, chỉ cách nhau có một hàng rào cây điệp. Vào trưa hè chúng tôi thường ra sau nhà hái bông điệp chơi, thỉnh thoảng tôi chui qua hàng rào nói chuyện với chú rất vui, ngày nào tôi thấy gương mặt của chú nghiêm chỉnh thì tôi tránh xa để cho chú tha hồ nhập men. 

Chú Mười Lực là người rất đa tài, chú biết viết lời ca, biết hát và chú tự chế ra cây đàn Độc Huyền Cầm một dây cho chú, cây đờn của chú Mười rất đơn giản, chú lấy ba miếng ván mỏng làm thành cái bình thùng thủng đít, dài khoảng một thước, hai miếng ván nhỏ bịt hai đầu, chú dùi cái lổ đặt cần ngấn, cột sợi dây đờn vào cây ngấn nối vào một cây đinh ở đầu bên kia, chú đến nhà ông Năm thợ mộc xin ông Năm phết lên một lớp vẹt ni đỏ đỏ, nâu nâu, không có chạm trổ, không gắn sa cừ hay phết sơn mài như những cây đàn đang được bày bán trên thị trường bây giờ, nhờ vậy mà nó trở thành chiếc đàn độc nhất vô nhị của thị trấn Ninh Hòa.

Không biết ai đã sáng chế ra cây đàn Ðộc Huyền Cầm và từ bao giờ, là một loại đàn một dây độc đáo của Việt Nam, hơn nửa thế kỷ trước nhạc sĩ Trần Văn Khê đem cây Độc Huyền Cầm đi biểu diễn trước công chúng Âu Châu được hoan nghênh nhiệt liệt, cây đàn này có thể dùng để đàn tất cả nhạc cổ điển Việt Nam và nhạc Tây phương. Chú Mười Lực là một thiên tài về âm nhạc, bị mù đôi mắt từ thuở thiếu thời, không ai biết chú đã học nhạc ở đâu, ai dạy chú và chú biết sử dụng đã bao lâu mà chú có thể đờn một cách tuyệt vời. Chú đờn những bài Xàng Xê, Lý Con Sáo; chú đàn Vọng Cổ Hoài Kim giữa chợ Dinh, vào những dịp Tết hay cúng đình, các xã lân cận như Quán Tre, Lạc An, xuống tận Bến Đò và Hà Liên, họ mời chú đến để giúp vui.

Ai đã xem qua những đĩa nhạc của Paris By Night cũng đều cảm phục khi thấy một nhạc sĩ trang trọng trong bộ quốc phục Việt Nam, áo dài đen quần lụa trắng, đầu đội khăn đóng và đôi hia màu đen, ông ngồi chễm chệ trên sân khấu đèn màu quy mô hiện đại, với chiếc đàn độc huyền cầm chạm trổ vẹt ni bóng láng, ông đưa những tiếng đàn và tiếng ngân theo thể điệu dân ca Miền nam rung động lòng người. Không dám so bì, nhưng nếu có ai còn nhớ tiếng đàn của chú Mười năm mươi năm trước thì mới biết rằng ngón đàn của chú Mười không thua kém ai, nó chỉ khác nhau giữa cái không gian và thời gian mà thôi.     

Khoảng thập niên 40-50, mỗi buổi sáng khi mặt trời vừa vượt cầu Dinh, mấy bác xích lô đổ chuyến hàng đầu tiên ở nhà lòng chợ, hàng quán hai bên hông chợ hé cửa dọn hàng là lúc chú Mười chuẩn bị xuất hành, với mái tóc đen láy chải ngược có thoa dầu Brillantine láng cón, chú mang cập kiếng tối, quần Tây áo sơ mi tay dài cài hai nút manchet; chân chú mang đôi sandal kiểu rọ heo hở hang mát rợi, một tay ôm đờn, một tay cầm cây gậy, chú hăng hái vượt Đường Luồn Cây Thị ra đến đường Trần Quý Cáp, gặp chú Hai Ngộ đang bận rộn với chiếc xe hủ tiếu thơm phức, chú Hai Ngộ mời chú Mười nhưng chú không ăn vì chú chưa có cà phê buổi sáng. Mấy bác phu xích lô đang ngồi chờ khách ròn rã chào chú Mười, chú dơ cao cây gậy đáp lễ nói đùa vài câu rồi thẳng tiến, đến trước nhà lầu Tựu Thành, chú quẹo trái vào quán Café Ông Hai Khai Tám Ái. Chú Mười vừa đặt đít vào ghế là chú Hai pha cho một tách cà phê xiểu phé nại mang đến vui vẻ mời chú, chú húp một húp cà phê nóng nghe cái rọp cho ấm giọng, tằng hắng vài cái cho thông cổ họng, rồi chú cất giọng thanh tao hát lên vài câu mới sáng tác đêm qua cho thực khách nghe chơi, đáp lại là những tràng pháo tay ì ầm, nhờ vậy mà sáng nào quán cũng đông khách. Để tỏ lòng ưu ái với chú Mười, chú Hai hoan hỷ không tính tiền ly cà phê, và ai cũng biết chú Mười không phải là người phải đi hát mới có ăn, chú đi hát là để giúp vui cho mọi người thôi.

Chú Mười hát dân ca, vọng cổ Hoài Hương, chú hát bài chòi, khi cách mạng khởi nghĩa vào mùa Thu 1945 chú đờn và ca bản khởi hành rất là hùng hồn, rồi một đêm nọ, một đoàn quân Viễn Chinh Pháp với xe tăng thiết giáp, Tây trắng, Tây đen mặt mày rằn ri từ Banmethuot xuống chiếm thị trấn Ninh Hòa, những ngày đó chợ Dinh không người nhóm, xe tăng thiết giáp đậu dầy trước sân chợ, thỉnh thoảng một chiếc xe tăng thả trái lựu đạn màu, cho xe chạy quay tròn làm cho khói màu tỏa mù trời rất là khiếp đảm. Ngay giữa chợ họ phơi mấy xác chết dưới ánh nắng như lửa hồng. Một người đàn ông bị trói hai tay sau lưng nằm dưới đất làm bàn đạp cho người lính Pháp bước lên xe, mỗi lần bị đạp lên lưng thì tiếng la thất thanh phát ra, thật là man rợ mục đích chỉ để cảnh cáo dân chúng đừng theo cách mạng. 

Tiếp theo đó là những ngày Thị trấn bị bố ráp, nhà lao chật ních tù đày, bọn lính Tây ngày đêm hành quân tảo thanh các vùng Lạc An, Hòn Khói, Hòn Hèo và xã Ninh Hưng, lâu lâu họ đem về một hai xác chết, phơi bày trước chợ cho công chúng khiếp sợ, chú Mười vì mù lòa, không thể cầm súng giết giặc để cứu lấy quê hương, nhưng nhờ lòng can đảm của một thanh niên Ninh Hòa, chú dùng tiếng hát và lời ca nhắc nhở mọi người biết rằng quê hương đang chìm trong khói lửa, chú khéo léo diễn tả cặn kẽ cuộc chiến, chú đả kích bọn xăm lăng, chú hát quên mình mà không sợ Tây trả thù. Chú hát cho đến khi quân Pháp thất trận phải đầu hàng ở Ðiện Biên Phủ và Chú không ngừng hát vì quê hương bị chia đôi bởi Hiệp Định Geneve vào tháng bảy một ngàn chín trăm năm mươi tư. 

Ngày tháng trôi qua, nước sông Dinh nghìn thu vẫn chảy, tuổi đời cứ chồng chất lên cao, nhưng nghiệp cầm ca vẫn cứ bám chặt tâm hồn của chú Mươi, dù thân hình của chú bây giờ mỏng manh như cành liễu úa bên chùa Tàu, màu tóc của chú đã nhuộm đầy phong sương, cuộc đời của chú thay đổi, âm thanh của tiếng đờn độc huyền cầm của chú Mười câm lặng giữa chợ đông, ngày nào khỏe mạnh chú Mười tận dụng hết năng lực còn lại trong người, chú khom lưng vát cây đàn trên vai, một tay cầm cây gậy, vẫn đeo cặp kiếng tối, bước chân âm thầm yếu ớt,  chú mò từng bước đi theo con Đường Luồn Cây Thị mà chú đã từng đi qua mấy mươi năm, qua khỏi nhà Ông Bốn Thơ, chú lết dần đến chiếc xe nước mía ở đầu đường, chú ngừng lại mở miệng cười chào hỏi ông chủ xe nước mía, rồi chú nghiêng mình rẻ qua bên trái đến vách tường nhà Chú Chỉ, sát bên tiệm hớt tóc của chú Chín Ngọt, chú tựa lưng vào vách tường từ từ ngồi bệt xuống đất, chú lấy hai chiếc dép Nhựt kê vào bàn toạ cho êm bộ xương chậu, chú chẩm rải đặt cây đàn vào vị trí, một tay cầm que, một tay cầm cây ngấn, sau điệp khúc mở đầu chú cất tiếng rời rạc, giọng run run, hơi chú ngắn ngủn, chầm chậm chú nhái lại những bài ca quá quen thuộc mà chú đã hát mấy chục năm nay rồi. Tiếng đờn và giọng hát của chú bây giờ êm dịu quá đến nỗi không còn nghe được nữa, cứ thế chú tiếp tục kéo dài cho đến khi mặt trời lặn sau dãy núi Trường Sơn, chợ tan, hàng quán đóng cửa, mấy đống lá bàng to tướng bên hông chợ đã được hốt sạch sẵn sàng cho ngày mai, phố xá đã lên đèn, tiếng hát của chú Mười xa dần, tan theo ánh đèn mờ của Đường Luồn Cây Thị. Kể từ đó đất nước thêm tao loạn, tôi phải đi xa thị trấn Ninh Hòa tìm lẽ sống, không còn nghe tiếng đờn và tiếng hát của Chú Mười Lực nữa.   

Bài này viết theo ký ức, xin quý vị tha thứ nếu có điều gì sai sót.         

Đường Du Bình

VỀ TRƯỚC

 

Mọi thông tin về Website xin gởi đến webmaster@ninhhoatoday.net