QUI KHUYEN HOC NINH HOA

 

HOME

TRANG VĂN

TÁC GIẢ

 

 

 

 

TÁC PHẨM

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ngược Dòng Sông Dinh

Mùng năm Tết Kỷ Sửu, 28 tháng 1, năm 2009, tôi trở về Việt Nam, ở chơi được hai tuần, tôi đáp chuyến bay Southern Airlines bay qua Quảng Châu trên đường đi đến Hạ Môn Tỉnh Phúc Kiến để gặp người bạn già Phan Tiên Cường.

Tôi (áo trắng) và Phan Tiên Cường

Cường cũng là người Việt gốc Tàu như tôi, người gốc Quán Chà, huyện Ninh Hòa. Tôi và Cường cùng tuổi, cùng học một trường Bình Hòa Hải Nam bên Vĩnh Phú. Nhà của tôi ngày xưa ở đối diện chơ Dinh, bên đường Quôc Lộ 1. Nhà của Cường cũng cùng tuyến đường nhưng gần chùa Quãng Đông đầu cầu Dinh. Ở Quán Chà, gia đình của Cường có một cơ sở đồ sộ, ruộng lúa bao la, Ba Má và anh em của Cường coi tôi như người trong gia đình nên mỗi năm vào mùa Hè, khi trường bãi học là tôi đi xuống Quán Chà ở nhà của Cường chơi, cho đến gần ngày tựu trường niên khóa mới tôi mới trở về nhà mình trên thị trấn.

Sau khi thực dân Pháp thất trận Điện Biên Phủ, ngày 20 tháng 7 năm 1954 hiệp định Geneve được ký kết, chấm dứt cuộc chiến tranh, Việt Nam bị chia đôi hai miền Nam Bắc, từ sông Bến Hải vĩ tuyến 17. Ở miền Nam ông Ngô Đình Diệm được Mỹ ủng hộ lên làm tổng thống, nắm chính quyền, thành lập Đệ Nhứt Việt Nam Cộng Hòa, thay đổi Hiến Pháp, buộc tất cả người Tàu trên toàn lãnh thổ miền Nam phải lấy Quốc tịch Việt Nam. Tất cả cửa hiệu, cơ sở thương mại của người Tàu phải viết chữ Việt. Trường học của người Tàu phải dạy chương trình Việt ngữ. Tất cả thanh niên ở lứa tuổi 18 - 19 phải đi lính quân dịch.

Cường và tôi cùng tuổi, cùng chung cảnh ngộ, nhờ gia đình khá giả, sau khi mãn khóa học ở trường Bình Hòa, Cường đi vào Saigon học, từ đó Cường nhảy qua Hông Kông, rồi đi tiếp vào lục địa Trung Quốc, Cuờng tiếp tục học hành rồi định cư luôn bên đó, cho đến ngày chúng tôi gặp lại thì tôi và Cường đã xa nhau hơn 50 năm rồi.

Một điều tôi muốn nói về Phan Tiên Cường là suốt thời gian từ lúc rời khỏi Việt Nam hơn 50 năm trước cho đến ngày gặp lại tôi, anh chưa hề gặp môt người Việt Nam để có cơ hội nói được một tiếng Việt, thế mà khi tôi gọi điện thoại từ Mỹ thì hai anh em nói chuyện với nhau bằng tiếng Việt. Cường hiểu và biết những gì tôi nói, thật là hy hữu.

Tôi và Cường lúc nhỏ chơi với nhau khắng khít, đến lúc bạc đầu mỗi người sống một nơi, xa nhau hơn mười ngàn dặm. Trời cao đã an bài, thành phố tôi đang ở gần 35 năm là thành phố Olympia xinh xắn nằm nơi bờ phía Tây Thái Bình Dương bên Mỹ Quốc. Thành Phố mà Cường đã ở hơn 50 năm là thành phố Hạ Môn bên bờ Đông của biển Thái Bình Dương Trung Quốc.

Xa nhau hơn 50 năm, lần đầu tiên gặp lại, cả hai đầu tóc bạc phơ, hai thằng Tàu già bất đắc dĩ mỗi người có hai quê hương nhưng hôm nay, cùng một tâm hồn, ngược dòng sông Dinh nói chuyện Ninh Hòa ngày xưa và hôm nay. Cường nói tiếng Việt theo kiểu Tàu, khi gặp khó khăn Cường trộn vài tiếng Quang Thoại. Tôi nói tiếng Việt theo kiểu Mỹ, lâu lâu chen vài tiếng Mỹ cho suông câu.

Chúng tôi nhắc lại chuyện 50-60 năm về trước ở thị trấn Ninh-Hòa. Sự thăng trầm của cộng đồng người Hoa, chúng tôi rất thích thú khi kể đến chuyện vào mỗi mùa hạ, anh Lạc (anh của Cường) dẩn chúng tôi đi săn chồn ở Quán Chà.

Chuyện lúc nhỏ chúng tôi còn đi học ở trường Bình Hòa, bị học sinh Việt Nam trường Pháp Việt kế bên ném trái bàng bêu xấu. Mỗi lần học sinh bên trường đó ném trái bàng thì miệng kêu to: “Tàu le ăn me ỉa chảy” rồi cút mất. Ngược lại chúng tôi không ném trái bàng nhưng trả lời “ An Nam Mit bú đít Xi-Noa”, rồi mau mau chạy vào trường. Tội nghiệp mấy chị con gái chạy chậm bị trái bàng ném trúng làm quần áo lấm lem. Tháng 8 năm 2008 khi tôi đi dự họp mặt của trường Bình Hòa - Ninh Hòa ở Los Angeles, người cháu cho biết chuyện ném trái bàng của học trò trường Pháp Việt vẫn kéo dài mấy chục năm, mãi cho đến năm 1975 mới thôi.

Hai thằng nhớ gì nói nấy suốt mấy tiếng đồng hồ cũng chưa hết. Trước khi đi ngủ, Cường nói “Tôi muốn về Quán Chà, để thấy lại cánh đồng lúa và ngôi nhà của tôi bây giờ nó ra sao”. Cường nói với một giọng nhè nhẹ như buồn ngủ nhưng mới nghe qua làm tôi xúc động không ít.



Hình chụp ngày 30 tháng 4 năm 2005

Ninh Hòa Ngày Xưa

 Tôi có một ông chú, sanh năm 1916, đã thất lộc mấy năm rồi. Lúc còn sanh tiền, chú tôi kể chuyện về cái thị trấn Ninh Hòa. Ông nói: Ngày xưa lúc chú còn nhỏ, chợ Ninh Hòa có hai dãy nhà tranh, bốn phía chợ toàn là nhà tranh và hầu hết những người ở chung quanh chợ là người Hoa. Trong chợ cũng như đường đi bốn phía khônng có tráng nhựa, vào mùa nắng thì bụi bậm, mùa mưa thì sình lầy. Trong chợ có hàng thịt, hàng bán đồ khô, vải vóc. Giữa chợ bán cá, hai bên chợ bán rau cải và nông phẩm.ss

Nhờ làm ăn phát đạt, chợ được xây bằng xi măng và lợp ngói khang trang. Nhà cửa bốn phía cũng dần dần xây nhà gạch lợp ngói. Ông nhớ có một kiến trúc sư từ Quảng Châu đến cất nhiều nhà trong Thị trấn, trong đó có nhà lầu của ông Lương Vĩnh Đức, nhà lầu Phù Thoại Thành, Hàng Tựu Thành, nhiều căn nhà khác như nhà Bà Tám Chút, nhà bà Năm Nhị, v.v. Ninh Hòa lúc đó có một căn nhà lầu 3 tầng duy nhứt, đó là nhà lầu ông Bang Hy trên đầu chợ.


 

Nhà ông Hàng Tựu Thành màu xanh nằm giữa

Chợ Dinh cũ

Lúc tôi còn nhỏ, Chợ Dinh có hình chữ U, hướng mở ra đường quốc lộ 1. Từ nhà Nội tôi nhìn ra chợ, có cái sân ở giữa lót gạch Tàu. Tại đây người ta bán đủ thứ, như bánh canh, bánh xèo, bún và các món ăn sáng. Hàng bánh canh cua của cô Ba Hòa rất là nổi tiếng tại chợ này.

Nhà lồng chợ nền cao khoảng một thước, có tam cấp lên xuống. Hàng xén bày bán trên sạp. Hàng vải được bày bán hàng giữa. Hầu hết buôn bán trong chợ và chung quanh chợ là người Việt. Sạp bán vải của cô Sáu Ngôn, thiếm Hai Khét, mẹ của thi sĩ Quan Dương bán tại đây. Còn lại là các sạp bán áo quần và đồ khô nên không có mùi và mỗi chiều tan chợ hàng hóa gánh về nhà, toàn thể nhà lồng chợ được dọn quét rất sạch sẽ. Ở giữa có một cái giếng nước lớn, để mỗi tối sau khi người phu quét chợ sạch sẽ, lại xách nước lên rửa sạch cho ngày mai.

Hai bên hông chợ có nhiều quán bán bánh kẹo, các thứ đồ khô và tiệm may. Hông chợ bên phải có quán cà phê của chú Hai Khai sau này đổi thành cà phê Tám Ái. Cà phê Tám Ái là nơi tụ tập của thành phần trí thức khá giả của Ninh Hòa đến đây đấu láo. Phía bên hông trái có cây bàng thật to trước nhà Ích Phát. Xê lên trên có tiệm cơm gà Nghĩa Hiệp trứ danh, không đâu sánh nổi.

Mỗi chiều trời vừa sụp tối, nhà nào nhà nấy thấp đèn măng xông sáng trưng, mấy sạp bán thức ăn đêm như bánh xèo, nem nướng, hủ tiếu, chè cháo giải khát đầy sân. Thiên hạ đi ăn đêm rần rần cho đến khuya.

Vào mùa trăng tròn, chúng tôi thắp đèn lồng dạo chơi khắp phố. Chùa Quảng Đông gần cầu Dinh thắp đèn sáng trưng cúng rằm. Vui nhứt là vào những ngày chùa làm chay, chùa làm chay cúng quảy suốt mấy ngày đêm, đêm chót lại có Tế Bần, bà con ùn ùn tới chùa đông đảo rất là vui. Cả thị trấn làm ăn buôn bán thịnh vượng thái bình…

Đường Du Bình

 >> Cung đàn xưa - Người nghệ sĩ Đường Luồn Cây Thị - Đường Du Bình

 >> Một thời vang bóng xứ Ninh - Đường Du Bình

VỀ TRƯỚC

 

Mọi thông tin về Website xin gởi đến webmaster@ninhhoatoday.net