QUI KHUYEN HOC NINH HOA

 

HOME

TRANG VĂN

TÁC GIẢ

 

 

 

 

TÁC PHẨM

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Cảm thức vô biên dành cho Ninh Hòa

Tôn Thất Tuệ

(Kỳ 1)

Đầu tháng 11 thân hữu Tôn Thất Tuệ gởi đến web www.ninhhoatoday.net một “suy cảm” khá dài. Rất bất ngờ thú vị với những luận điểm và phong thức khác lạ. Có lẽ đây là bài viết hay nhất của tha nhân về vùng đất và con người Ninh Hòa mà chúng tôi được đọc cho đến thời điểm này. Qua lăng kính “khách thể” có nhiều tính triết lý, Tôn Thất Tuệ đã khái quát và đúc kết được một số vấn đề lớn của Ninh Hòa mà nhiều bút mực, ý tưởng của “chủ thể” đã chưa hoặc không thể diễn đạt được.

Tác giả đã bỏ nhiều công sức “lặn lội” trên các diễn đàn của người Ninh Hòa, điểm từng lời lẽ, nhặt từng tâm tư tình cảm, nêu được đặc điểm của từng cây bút…Và đặc biệt, tác giả luôn thể hiện sự thân thiện nồng hậu với Ninh Hòa. Qua thư gởi cho Web QKH, tác giả luôn mong muốn có cơ hội “bày tỏ sự quí mến đối với các cây bút tôi đã điểm qua”…

Các lý lẽ trên chính là cái duyên để “Cảm thức vô biên …” hiện diện trên www.ninhhoatoday.net . (10/11/2009)

Từ Sài Gòn, tôi thường lui tới miền Trung trên những chiếc máy bay nhỏ ven bờ như thuyền đánh cá cận duyên chỉ có khác là ở bên trên. Một lần ngồi bên một khách đồng hành rất duyên dáng tôi nhìn xuống biển nói: Đó, Ninh Hòa nơi chị tôi lấy chồng đi lính và đồn trú quanh Nha Trang. Làm ra vẻ đoan chắc tôi nói tầm bậy, nường gạn lại: "Biển nào cũng biển sao ông nói là Ninh Hòa, ông có chắc không"? Tôi không đáp mà ngã người, ngủ trong vòng tay của chị. Từ khi tôi lên máy bay ở Huế, chị tôi đã chiếm không gian tư tưởng của tôi. Người chị ấy lấy chồng đi lính, đồn trú ở Ninh Hòa. Vậy nơi nào chẳng Ninh Hòa dù bên dưới là Tân Sơn Nhất, người đẹp của tôi ơi.

Đại khái đó là phần kết truyện ngắn Mẹ và Chị  của tôi,  không hẳn là một tự truyện nhưng dựa trên đời sống thật của một người chị vừa là mẹ, thay mẹ khi mẹ chết sớm. Người chị ấy có thật và sống thật một thời gian ngắn dài không rõ ở Ninh Hòa và phụ cận. Lúc ấy sau 1954, tôi mua vé xe Hiệp Thành từ Huế vào Nha Trang, hơn bốn ngày mới đến vì đâu cũng phà, tiêu thổ kháng chiến còn để lại các vài cầu trồi mình khỏi mặt nước: Trà Khúc, Đà Rằng ...Khám phá thứ nhất ở xứ Khánh là người ta nấu canh chua với lá me, khi thấy các em bé hái lá me bên đường, xếp thành bó nhỏ. Khám phá thứ hai là chiếc xe ngựa không có ngựa trên những bãi phân ngựa còn xanh ở Ninh Hòa.

Tôi nói khám phá vì tôi thấy nó lần đầu tiên trong một tâm trạng rất khác thường. Cậu học trò Huế vừa xong đệ nhất cấp nằm mơ thấy chị ở Ninh Hòa bị mất trộm. Tôi nói với người anh tôi phải đi ra đó xem sao. Chiếc xe lửa chạy than để lại trên áo nhiều bụi đen khi qua cái hầm ngắn thả tôi xuống Ninh Hòa. Tôi đi vào một khu nhà lá nghèo, nơi vợ lính thường thuê nhà ở quanh nhau. Đến nơi chừng chín giờ sáng, tôi thấy nhà trống. Người bên cạnh cho biết chị tôi tối qua đem con đi bệnh viện. Gần tương ứng giấc mơ bị trộm nói trên. Tôi thấy sợ sệt và chơ vơ.

Trước ngõ, một cỗ xe ngựa đứng yên bên bờ dậu, những bãi phân ngựa còn xanh chạy mãi tận kia. Những con ngựa đã xa vắng như chị tôi xa vắng đâu xa ở nhà thương với đứa con. Căn nhà ấy, chiếc xe ngựa ấy. Chị tôi về nhà bình yên. Xế chiều cùng ngày tôi trở về Nha Trang. Chiếc xe ngựa vẫn còn đó nhưng quay ngược đầu.

Tôi tìm lại những điều trên đây khi thắc mắc cả tháng nay sao lòng tôi - từ khi gặp ninhhoa.com - cứ quyến quận cái Ninh Hòa xa xôi ấy, cái Ninh Hòa tôi chưa biết mặt mũi ra sao. Tôi nghĩ ngần ấy chuyện không đủ làm tôi thức đến hai giờ sáng đọc cho hết những bài của Lương Lệ Minh Trí, ngẫm nghĩ hoài vì sao người Ninh Hòa yêu mến sông Dinh hơn người Huế yêu sông Hương, ngẫm nghĩ hoài một địa danh không có gì nổi tiếng trong quá khứ lại có những dòng thơ rất lạ, những cảm quan triết học không mô tả qua các thuật ngữ chuyên môn mà qua những hình ảnh và ý thơ.

Cọp Ninh Hòa nghe mà kinh, nhưng người ta vẫn ở nơi nhiều cọp vì cọp dữ không nguy hại như người dữ, y cứ câu chuyện của Khổng Tử. Nói vậy phải chăng có nghĩa người Ninh Hòa dễ mến, kẻ khác muốn lại gần cho dù cọp nhiều ghê lắm. Thật vậy thì hay quá.Tôi thấy hình Nguyễn Thị Thanh Trí, Đặng Trùng Dương thật hiền lành không kém Đàm thị Ngọc Lý bên cạnh nét sâu thẩm thời tuổi thơ của Huỳnh Trịnh Tuyết Hoa. Nét trong lành mẹ dựng còn nguyên nơi Hà Thị Thu Thủy, Trương Tiểu Dung ngày chưa quá đôi mươi. Nhìn chung những tấm ảnh lớn tuổi hơn, nam lẫn nữ đều hiền hòa, qui hướng nội tâm, một Lương Lệ Huyền Chiêu, một Diệp Thế Mỹ, một Thanh Mai, một Dương Tấn Long, một Trương Thanh Sơn...

Nhạc phụ tôi luôn nhắc nhở: Tướng tại tâm sinh. Quả vậy, theo tôi những người tham gia ninhhoa.com, qua những phần viết, ôm giữ những giá trị tinh thần, một tính tôn giáo siêu nhiên không gò ép trong một mô thức, họ không dùng những danh từ đặc thù của tôn giáo mình mà chỉ làm cho người nghe và người đọc biết là tác giả có một niềm tin, một đức tin, một thiết tha vĩnh cửu. Thế thôi, vì từ đây là vùng không lời, vô ngôn giới, của người nói, người nghe, của người viết, người đọc, thênh thang ngàn lối về nơi đỉnh hội ngộ của thi ca, của khoa học, của triết lý, của tôn giáo:

......

đã lưu lạc trong sắc màu ngạo nghễ

giữa ánh đèn giả tạo chốn phồn vinh

rồi mai đây khi vầng dương khuất bóng

biềt về đâu trong biền biệt tử sinh...

(Rong Biển, Thanh Mai).

Vâng, tử sinh là hai mặt của cuộc đời. Nếu không có cuộc đời thì không có tử sinh; nếu không có tử sinh thì không ai thấy cuộc đời. Đến một mức tử sinh là một. Hòn Vọng Phu không phải là một cặp tử sinh hay sao? Cái chết của thiếu phụ nẩy sinh cái sống của chờ mong; chờ mong chồng về sau chiến tranh, chờ mong tin nhạn, chờ mong một thời an bình cho xóm làng cho nhân loại. Người Ninh Hòa nhìn Hòn Vọng Phu với tất cả chờ mong, với tất cả ước nguyện, hoặc như một đối ảnh của tàn phai:

Người về ngó núi ngó non

Thấy người hóa đá vẫn còn đứng kia

người về nghe những tàn phai

người về tìm lại những ngày quên nhau.

 (Tàn Phai, Đặng Trùng Dương)

Lại một cặp tử sinh, cách nhau đường tơ, bằng một dấu mũ: những ngày quen nhau và những ngày quên nhau. Tôi đã tìm gặp cái sầu muôn thuở của tôi nơi Đặng Trùng Dương.

Tuy trông tương phản, người hóa đá kia được dùng như một biểu tượng của bất biến. Nói thế là vì Đức Phật mượn sông Hằng làm ví dụ của sự bất sanh để tả cái bất diệt nơi vua Ba Tư Nặc vì ông vua nầy vẫn thấy sông kia như nhau khi ba tuổi mẹ đưa qua đò ngang và khi già yếu. Người hóa đá ấy là dấu hiệu nhân thể để nói với trời đất rằng bên trên hay bên dưới, đông hay tây, con người là đáng trọng hơn hết (thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn). Người Âu châu vẫn mường tượng một nữ thần dùng mái tóc tỏa hương cho cả Địa Trung Hải. Nhưng biểu tượng của chúng ta hôm nay rất người, với những thương mến rất người, cũng thấy những phôi pha những nồng nàn.

Chính cái nét người ấy đã làm cho vùng thiên nhiên bao quanh Ninh Hòa cùng với lòng người tạo nên một thế liên hoàn. Sự tiếp nhận thiên nhiên ngoại cảnh vào vũ trụ nội tâm là giá trị thứ hai mà người Ninh Hòa ôm ấp bên cạnh giá trị tôn giáo tính siêu nhiên nói trên.

Người xưa đốt lá trên rừng

Khói bay về tận. Để mừng tuổi em

Người xưa múc nước trên nguồn

Đổ vào suối nhỏ. Để mừng tuổi em.

(Để Mừng Tuổi Em, Phù Vĩnh Sơn).

Nhưng sự hòa nhịp cao độ, theo tôi, được dành cho sông Dinh. Trong ba con sông mà Phạm Đình Chương gọi là ba chị em, tôi chỉ lấy sông Hương đem so với sông Dinh vì hai sông kia quá lớn về vóc dáng và ảnh hưởng kinh tế. Tôi chưa bao giờ nhìn sông Dinh. Sông Dinh phơi cát vào tháng ba trong lúc sông Hương bao giờ cũng nước xanh. Đến với dòng sông là khuynh hướng tự nhiên của con người, có thể vì thân thể ta chứa hơn một nửa thể tích là nước. Tôi không có ý niệm về sự đóng góp kinh tế của 51 kilomet nước nầy. Ninh Hòa nằm ngay cận biển; tôi có đọc đâu đó trên web nầy sông Dinh bồi nhiều phù sa cho những ruộng lúa hai bên. Tuy vậy, tôi không nghĩ ảnh hưởng vật chất ấy đã giải thích địa vị sông Dinh trong lòng người Ninh Hòa.

Tôi tự cảm nhận mà không có dữ liệu rằng trái với quan niệm thông thường, sông Hương không được thương mến ở địa phương bằng sông Dinh. Cũng như ở Mỹ đội football Packers được xem là có nhiều ủng hộ viên nhất ở tiểu bang Wisconsin nhưng ngôi vị nầy thuộc đội Saint ở Louisiana. Dương Tấn Long đã sưu tập gần trăm bài thơ có giá trị về con sông nhỏ nấy; hy vọng Dương Tấn Long sẽ không dùng con số nầy như một dữ liệu thống kê để xem con sông nào nhiều điểm hơn. Sông Hương với vị thế địa dư và lịch sử nằm ngay giữa giao lộ của các luồng tư tưởng, những sinh hoạt chính trị chắc hẳn phải được nhiều người nhắc đến. Để đánh giá vị trí tâm cảm của sông Dinh, thiết nghĩ nên xem sự nồng nàn trong văn tự, sự tha thiết giữa cảnh và tình (người và vật), vị trí con sông trong lịch sử và địa dư cùng ảnh hưởng của con dân Ninh Hòa trên toàn bộ sinh hoạt trong và ngoài nước. Sẽ có một tỷ lệ rất cao.

Riêng với tôi, điều quan trọng là những thành viên trong website đã đổ nhiều tâm lực vào con nước nhỏ nhoi nầy, như cái e ấp ấm cúng của riêng tư. Đối với tôi là một huyền nhiệm (mysticism) vì mối tương cảm và thương cảm giữa con người và con người và ngoại vật là những huyền nhiệm chỉ có thể cảm nhận qua trực giác.

Người bỏ Ninh Hòa người ra đi

Người bỏ sông Dinh bỏ những ngày

Tháng ba bãi cát phơi đầy nắng

Tháng tám mưa dầm con nước xuôi.

Người bỏ chợ Dinh người ra đi

Bỏ lại sau lưng những bóng người

Trưa nắng khua buồn đôi guốc gỗ

Những giọt mồ hôi trên tóc mây.

(Một ngày bỗng nhớ, Đặng Trùng Dương)

Vâng, tôi, Đặng Trùng Dương, đang đứng giữa nắng hè, tôi sống trong sự vận hành của càn khôn nhật nguyệt, của mưa nắng hai mùa. Tôi đang nghe tiếng guốc chấm phết câu văn nội tâm của tôi; những giọt mồ hôi ướt trán sau một khúc hát trần ải của tâm linh; và sông Dinh đang chuyển tải những tâm tình; và nơi chợ Dinh tôi bày bán những giờ chiêm nghiệm, những suy cảm triền miên, những câu thơ không suông sẻ, những dòng chữ chạy đua không kịp với ý tưởng.

Vâng, tôi, Đường Du Hào, tôi gióng trống dục triệu hồn người. Hồn của mẹ tôi, hồn của tôi, hồn của nước tình từ thượng nguồn; ba thứ ấy đã chảy vào sông Dinh, ba thứ ấy - uyên nguyên, hiện hữu và hóa thân - ôm lấy nhau mà ẩn mà hiện không như ba nước Ngô Ngụy Thục quyết giết nhau mà thôi.

Mẹ,

thân cò, buôn gồng bán gánh

từng thúng gạo. Nuôi sáu đứa con.

Ngủ giấc ngàn khi lá thu vàng ánh

rụng trên đồi. Buồn chuyện nước non.

Ta,

con kiến bò theo đại lộ

của đời người. Một thoáng hư vô.

Gặm mấy lá thu phong đỏ úa

cho hết kiếp phù sinh. Lọt xuống mồ.

Tình,

dòng nước chảy từ thượng nguồn

vào sông Dinh. Tắm mát tuổi xuân tươi.

Trọn kiếp đời ly bôi chưa uống

đã từ biệt. Trống dục triệu hồn người.

(Tình Mẹ Con, Đường Du Hào)

Ở điểm nầy tôi thấy các bạn đã - hay trên đường - đạt điều trong Đông phương học gọi là "tình dữ vô tình đồng viên chủng trí" (nói cho dễ hiểu, người và vật đã về nơi qui hội), một thứ "vạn vật nhất thể”.

Nói vạn vật nhất thể thì to quá. Nên tôi xin về giá trị thứ ba trông rất nhỏ như hạt muối Hòn Khói mà cùng bản chất với biển cả vòng quanh. Ý thức về mẹ. Tuy không phổ quát như tình yêu, đề tài nầy ít nhiều làm sườn cho bối cảnh sáng tác; khi thì không rõ như chỉ nói quê mẹ, tiếng mẹ ru; khi thì nêu hẳn một kỷ niệm hay một nét sống. Lý Hổ từ Canada mộc mạc nói:

Phật kinh có bảo ta rằng

Mẹ là Thánh Mẫu của con ở đời.

Phạm Thiên Thư thêm chi tiết và thi vị hóa:

Con ơi mẹ là Thượng Đế cho con tâm lý nguyên sơ

câu ru và dòng sữa qúi, cho con nguyên lý diệu vời.*

Thượng tầng cơ sở nhận thức nầy sẽ được nhận chân khi so chiếu với một đoạn ngắn của lịch sử và cuộc đời cá biệt của từng bà mẹ. Cứ lấy tuổi trung bình 55 đến 60, những cây bút của chúng ta đủ trưởng thành để thấy cái cơ cực của mẹ (chưa kể trường hợp chính mình là mẹ trong thời gian quái dị nầy nơi xứ Âu Lạc). Cuộc chiến dai dẳng, với cường độ lên xuống như con nước, không ngừng sản xuất cô nhi và quả phụ; nhưng rất may sự thể trót mức nầy không thấy trên những bài viết của website nầy. Nhưng sự cơ hàn thì cao hơn mí mắt. Bức thư gởi mẹ của Lương Lệ Bích San phóng chiếu nỗi bi đát của một bà mẹ mười con ở vào thế chân tường, như con nai vàng ngơ ngác vây quanh với dáo mác cung tên. Nguyễn Thị Cẩm Vân giờ nầy vẫn còn ân hận không thể giúp mẹ làm cuộc viễn du rất gần từ bờ biển Ninh Hòa lên cao nguyên Lang Bian trong tầm kêu tiếng gọi dấu ngoắc tay, cuộc viếng thăm Đà Lạt chỉ là ước mơ không với đến được. Trong một luận thuyết rất ngắn, Lương Lệ Huyền Chiêu nêu lên niềm đau mẹ mất con vì chiến tranh. Trên tôi nói đoạn ngắn của lịch sử, nhưng là đoạn rất dài của đời người. Lịch sử đo bằng thế kỷ, con người đo bằng giờ, ngày. Một số lớn các bà mẹ đã ra đi vào lúc kinh tế khó khăn nhất tuy đã bắt đầu "sự nghiệp" vào lúc khó khăn không kém mấy chục năm trước.

Georgia USA, tháng bảy 2009

Tôn Thất Tuệ

(xem tiếp kỳ 2)

VỀ TRƯỚC

 

Mọi thông tin về Website xin gởi đến webmaster@ninhhoatoday.net