QUI KHUYEN HOC NINH HOA

 

HOME

TRANG VĂN

TÁC GIẢ

 

 

 

 

TÁC PHẨM

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Cảm thức vô biên dành cho Ninh Hòa

Tôn Thất Tuệ

(Kỳ 2)

Một bà bạn của tôi ở Nam Cali, giàu có, vợ của một bác sĩ, chỉ mong và không bao giờ có mấy đứa con hỏi xin một cái gì. Khi cần tiền, đứa út hỏi bà có cần sắp xếp garage không; có cần chùi chiếc Mercedes cho láng không, có cắt cỏ không, có cào lá máng xối không. Bà cho thêm tiền nó không lấy, nó tự tính mức công xá theo số giờ làm việc. Chỉ có mối tương quan thương vụ. Đối phần của sự giàu có và quan niệm tự lập cao độ sẽ đánh mất của ta những tâm tình sâu đậm cho hiền mẫu nơi Phan Thị Hương Thu, Lê Thị Đào, Lữ Thanh Phương, Phạm Dạ Thủy....Thân mẫu của Nguyễn Thị Thu, một nữ hộ sinh, đến cuối đời khi mất hết trí nhớ, vẫn ôm ấp con búp bê như ôm bé Thu, ôm những đứa bé khác chào đời mà bà là nhân chứng ghi trên tờ khai sinh. Quả thật tiềm thức có sức mạnh vô biên.

Tôi có một câu hỏi người ta nêu ra: Vì sao văn thơ ít ra ở VN chỉ nói đến mẹ, chị, em gái, quê ngoại và ít nói về cha, anh. Ở Mỹ ngày của mẹ được thương mãi hóa nhiều hơn ngày của cha. Ngày của cha, Home Depot để ra trên lối đi những đề nghị cho cha như cái cuốc cài cào, chiếc xe cắt cỏ, cái búa kiểu mới trong nịt đeo da vàng. Ngày của mẹ hoa là nhiều nhất, nước hoa, kim cương v.v... Thật ra, phụ nữ nhiều nhân tính hơn, nhiều trực giác hơn. Tiếng nói của mẹ, với VN là câu ru, là cửa ngõ của ngôn ngữ. Bé câm vì bé điếc bẩm sinh. (vì vậy ta có tiếng mẹ đẻ, mother tongue, langue maternelle). Xúc giác là cơ quan cảm nhận đầu tiên, nhờ vú mẹ, nhờ thân hình mẹ, bé có ý niệm về thiên nhiên cho nên con người thích vòng tròn đường cong hơn hình vuông, có góc cạnh. Thức ăn là mối liên hệ vô cùng mật thiết. Con người có thể quên tổ quốc, ngôn ngữ, quên hết trừ món ăn mẹ cho lúc ban đầu. Ngay với thú vật, con gà mới nở chỉ ăn thứ gì mẹ cắn và nhả ra, trong nhà con mèo theo người cho ăn.

Tôi hơi quá xa với đề tài; nhưng cái không gian vô tận của vòng tay mẹ, và các yếu tố sinh thành tâm lý và vật chất nêu lên để minh chứng cái giá trị mà người Ninh Hòa hàm dưỡng. Mà giá trị ấy cần được tô đậm vì nó là một trong những cột trụ chính của nền văn minh VN, cái văn minh chúng ta đang cần hôm nay. Trước khi chuyển đoạn, tôi xin nêu ra cái nghịch lý về mẹ.

Không phải ai cũng có diễm phúc như Phó Đức Lâm ở Canada sống bên mẹ suốt đời để có dịp hỏi mẹ sinh ra mình phải chuyển bụng ra làm sao. Với sự ly tán của thời cuộc, với cuộc sống thiếu dinh dưởng và khổ nhọc, tuổi thọ dân ta trong đó có mẹ tương đối ngắn, và đa số thành mồ côi rất sớm. Đa số người ta không đặt vấn đề mẹ, mẹ ta ta xem như đương nhiên thương yêu ta. Ta chỉ hỏi người yêu có yêu ta không. Nếu có thì hỏi tiếp rồi ra có còn yêu ta nữa không. Yêu ta thật hay giả, qua đường chăng? nàng/chàng nói như vậy nghĩa là sao? Hỏi và chỉ hỏi mà thôi. Trời mưa đến nhà nàng; nàng đưa cho cái khăn lau khô mặt. Ôi nó dịu dàng làm sao, tưởng như không còn gì dịu êm hơn. Anh đến thăm em một chiều mưa ...

Nhưng chàng ta không biết trong quá khứ bao lần, mẹ phải nằm bên chiếu ẩm nơi chàng đã đái dầm, nhường chỗ khô cho chàng, mẹ qua chỗ ướt. Mẹ đã bao lần lau đầu con khi cùng lũ trẻ tắm mưa dông; đã bao lần khâu áo, mỗi khi đi học về áo quần sút chỉ như lính hành quân xong. Như không khí ta tự nhiên mà hít thở, như dòng sông ta cứ tự nhiên uống nước, tình yêu của mẹ không điều kiện, mẹ đã gian nguy vượt cạn thành công. Tình thương của mẹ vô điều kiện trong lúc tình thương của chàng của nàng có điều kiện, ít nhất là trung thành, yêu hoa yêu cỏ càng nhiều càng tốt nhưng đừng yêu kẻ thứ hai. Có những kẻ dị hợm, thù ghét phụ nữ nhưng phải thốt lên rằng chỉ có một người đàn bà không lừa dối tôi, ấy là mẹ tôi.

Tính chất vô điều kiện ấy đã giải tỏa mẹ khỏi những vướng bận, dành thì giờ đối chỏi với ngoại cảnh trong nhiệm vụ thiêng liêng nhất là bảo vệ đàn con. Trong Kinh Phật, bóng mát cho ta cái dịu êm, con ngựa kéo xe cho ta, cô mụ giúp ta qua mùa nở nhụy...đều là Quán Thế Âm, thì sao ta không lập thêm một câu niệm: Nam Mô Đại Bồ Tát Mẹ (Namu Mama Maha Bodhisivatta). Mà mẹ không cần, chỉ là một danh từ. Không nói ra nhưng mẹ đã là kim cang bất hoại thân. Hồn phách của mẹ đã / sẽ thể nhập với người hóa đá kia, đứng trên cao, tinh hóa nước mưa để đổ vào sông Dinh, đuổi hết tà ma, chận hết ám đạm, chỉ cho khí lành đi xuống đồng bằng, như ngày kia có bà mẹ cầm chai Nhị Thiên Đường bảo cô chị tên Huyền Chiêu xức vào mũi cô em Bích San không thì cảm gió trên xe hỏa đi thăm bố ở Tuy Hòa. Vĩ đại nằm trong nhỏ nhoi, nhỏ nhoi nằm trong vĩ đại. 

Nếu hình ảnh mẹ là một bối cảnh làm nền cho những đậm đà cho chính người viết, (còn người đọc chỉ ăn ké xí phần) hình ảnh cô giáo, thầy giáo nhà trường, học sinh đã lên hàng đầu sân khấu. Tôi tạm gọi một nền văn minh mô phạm.

Ở Mỹ nhiều thị trấn nhỏ sống nhờ vào một viện đại học vì ngân sách khổng lồ của nó và nhiều thương vụ kế cận trực hay gián tiếp. Nhưng hai bên chỉ có quan hệ thương mãi. Ninh Hòa không ở trong phạm trù nầy. Đối với địa bàn của Người Trông Chồng, giáo dục là một nếp sống gia đình, tập thể, một dòng sinh hoạt văn hóa, một sợi dây liên kết trong cùng một thế hệ và giữa các thế hệ, nếu không muốn nói thêm, móc nối trong một chuỗi dài lịch sử. Cái thầm lặng các khuôn viên nhà trường, hơi hưởng của không gian mô phạm tương đối lành lẽ hơn các nơi khác. Lý do, như Vinh Hồ viết, trong suốt 100 đô hộ Pháp và 30 năm nội chiến, Khánh Hòa may không chứng kiến những thảm khốc quá mức của bạo động như từ Phú Yên trở ra.

Webmaster Nguyễn Văn Thành tưởng đã chụp được con mồi săn đuổi từ lâu khi tôi gởi một email ngắn. Anh tưởng tôi là thầy giáo cũ, với rất nhiều nồng thắm tình thầy trò. Tôi tiếc lúc nhỏ quá lãng tử mà không đi sư phạm để có kẻ thương nhớ khi đã lăng lóc quá nhiều trong cuộc đời. Đa số thành viên ninhhoa.com là nhân viên giảng huấn các trường trung tiểu học công lập, tư thục, bán công. Họ có may mắn nhìn về thời cuộc và giáo dục trước và sau 1975. (Lớp người trẻ chưa có thì giờ tạo nên một đường nét riêng về văn nghệ và giáo dục).

Cho dù có thay đổi bao nhiêu, họ chưa chấp nhận quan niệm của Mỹ xem thầy cô như những người biết hơn trò và có nhiệm vụ chuyển tải tri thức, một dạng computer. Điều Nguyễn Thị Thanh Trí viết dưới đây hy vọng sẽ được đưa vào thực tế sau khi nền giáo dục hiện nay được điều chỉnh trong một tinh thần mới dung hòa các khuynh hướng mà không ra khỏi truyển thống VN:

"Nghề làm thầy là dạy người biết sống làm người, biết xấu hổ với chính mình, xấu hổ với mọi người, xấu hổ trước những cái ác, trước những cái không phải".

Thật ra, các bài viết ít đề cập đến triết lý giáo dục. Trái lại chúng diễn tả một sinh hoạt bao trùm mối tương hệ giữa người và người. Tôi hiểu thái độ vồn vã của Nguyễn Văn Thành như trên sau khi đọc Nguyễn Văn Ty dành tất cả tâm tình cho người thầy cũ và các thầy khác. Tôi nghĩ công việc của nhà giáo, khung cảnh nhà trường, cơ hội tiếp xúc với học sinh và phu huynh là những điều kiện tốt cho việc sáng tác. Một ví dụ:

Một bé gái đến nhà cô giáo khóc, tay cầm cái bao nylon trống không. Bé đem cho cô hai quả trứng gà so nhưng dọc đường người ta đụng vỡ hết. Thường tình nếu thế thì lờ đi chờ ngày khác. Nhưng bé đến nhà cô, không với tư cách người nhận quà hụt mà là một người bé cần chia sẻ tâm sự ấy.

 Trên đây tôi chỉ lướt qua một số đóng góp rất ít so với tổng lượng sáng tác và phát hiện bốn giá trị tinh thần: tính tôn giáo siêu nhiên, hòa đồng với thiên nhiên quê quán, mẹ và giáo dục. Tiếp đến, tôi xin sơ phát vài ưu điểm năng hoạt mà tôi có ý dành cho nhân vật đầu tiên trong loạt bài Cảm Thức Vô Biên. Nguyễn Văn Thành.

Khi đọc email của Thành, tôi vẫn nghĩ là cậu học trò trung học quyến luyến ông thầy xin mấy dòng lưu niệm ngày hè hay khi bước vào đại học. Thật ra đó là người mà Trần Ngọc Chánh tả là "dáng người phương phi đầy phong độ vẫn còn trẻ khỏe yêu đời lúc nào cũng nhớ về quê hương yêu dấu với bao kỷ niệm". Rồi tôi lại nghĩ vẫn là cậu học trò mà thôi.

Thật vậy, những ai lước qua web nầy cũng phải thấy mình trẻ lại. Tôi không nghiêng về lối giải thích sau đây: đối với người lớn tuổi quá khứ là hiện tại. Trái lại tâm thức và lòng thiết tha làm chúng ta trẻ lại. Tôi nghĩ mọi người đã tuốt bỏ những bộ áo đời láng lẫy hay tả tơi như những đứa trẻ tắm mưa, hình ảnh Lương Lệ Minh Trí phát họa linh hoạt:

Uống chưa say lại ước trận mưa đầy

cởi hết áo trắng đen tìm máng xối

như ngày xưa còn bé tắm mưa hè.

(Đồng Dao)

Hoặc cùng nhau lội nước khi sông Dinh tràn bờ hay vui say hai năm một lần khi chùa Cát làm chay. Bạn hôm nay thành trẻ thơ chia sẻ với Hà Thị Thu Thủy nỗi hân hoan và lo âu của ngày đầu mặc chiếc áo dài thành người lớn, với Phan Thẫm lần đầu tiên ngồi trên chiếc xe đạp.

Hãy giữ cái hồn nhiên của tuổi thơ, tưới mát cho cả cuộc đời. Chúng ta cần cái thần tiên ấy để có cái nhìn trung thực về những phức tạp trước mắt.

Nhưng ngược lại, trang điện tử nầy đem lại những hoài niệm ray rứt, những cấu xé lương tri.

Ta nhớ rừng xưa, nhớ núi xưa

dã quỳ vàng rực lúc chớm trưa

có con bướm lượn quanh nòng súng

chia sẻ cùng ta khói thuốc thừa.

 (Nhớ Quên, Dương Alpha).

Sao cái ấy, sự thể ấy, sự thay đổi tận gốc ấy không đến sớm hơn hay chậm hơn một chút giùm tôi mà xẩy ngay vào lúc tôi mười tám. Tác giả của Khi Tôi Mười Tám Huỳnh Trịnh Tuyết Hoa đã bắt đầu cuộc đời riêng cùng sự bắt đầu chung của giai đoạn mới. Mà đời riêng chẳng có gì riêng; thậm như "thèm cốc ca phê nóng nhưng ngại bị phê bình không dám dậy" khi đi công tác ở núi rừng; "đem cái đầu có kiến thức cũ lắp vào cái miệng mới phát ra những điều mà tự thấy dối trá; đau đớn cứ thế vò xé tâm hồn".

Hoàn cảnh đất nước được vẽ lại dưới mọi khía cạnh; từ đó ta tìm gặp tính cách nhân chứng nếu muốn dùng thuật ngữ của trường phái hiện sinh thập niên 1950. Người viết lấy cảnh đời làm cảnh mình, nói khác tuy nội dung là chuyện một cá nhân, độc giả có thể hình tượng rộng rãi hơn, một tập thể một giới người.

 

        Nếu không muốn dùng một chữ hơi quá lớn là sử tính, ta có thể nói trang điện tử nầy rồi ra sẽ là một kho tài liệu cho ngành nhân chủng học. Lễ làm chay tại chùa Cát qua Lương Lệ Minh Trí cho thấy sinh hoạt nầy biểu hiện một thứ Phật giáo hòa lẫn với đời sống tại chỗ. Đám rước cô hồn vào ban trưa với chiếc tù và làm bằng con ốc là một mối giao hợp giữa âm và dương, cô hồn và người sống có khác gì nhau. Những hồi ký những hoài niệm móc lên bia đá, ngôi cổ mộ. Dương Alpha làm chứng có con mương chỗ nầy nhưng "con mương cầu Trạm nay đã lấp". Dĩ nhiên phải kể những công trình nghiên cứu về non nước Ninh Hòa, những di tích lịch sử. Và ta cũng không nên quên chuyện ngôn ngữ địa phương, những món ăn địa phương, những công nghiệp tại gia (cottage industry).

Thật ra danh từ sử tính không đến nỗi quá tải. Những biến cố dồn dập của nước ta, cộng với những khuynh hướng kinh tế toàn cầu đang và sẽ hay đổi khuôn mặt nước nhà với hàng ngàn con mương Cầu Trạm sẽ lấp. Ghi ký hành trình về thăm quê của Nguyễn Thanh Ty với những thay đổi như mất nguyên một làng chài nhưng nó sẽ trở nên chuyện rất nhỏ trong dự phóng chiều hướng khai thác thương mãi vô tội vạ, biến những cảnh đẹp thành nơi ăn chơi vì giá ăn chơi ở Thái Lan đã quá cao.

Du Sơn Lãng Tử nhà ta dịch thơ Hán Việt của Nguyễn Du mà quá đúng với ngày nay:

Lâu đài đập phá thành quan lộ

Đô thị xây lên lấp điện rồng.

 Mà những thay đổi bên ngoài đó kéo theo sự thay đổi trong đời sống gia đình, tình nghĩa vợ chồng, trong tương tác người với người... Việc xẩy ra hôm nay không đơn thuần xuất phát hôm nay mà là kết quả của một diễn trình tinh tế, trùng trùng duyên khởi. Nhưng điểm chính vẫn là sự thay đổi bậc thang giá trị hơn nửa thế kỷ nay. Kinh nghiệm tâm linh không còn nằm trong hệ thống qui chuẩn ấy nữa tuy rằng điều nầy đã được minh chứng trong lịch sử nhân loại như một ước vọng - và khả năng thực hiện - cõi thiện tuyệt đối, qua một ý thức tôn giáo siêu nhiên và sự hành đạo. Tác giả Phạm Xuân Đài viết: "Các lý thuyết chính trị, xã hội, triết học (kể cả môn đạo đức học) dù có khát khao cũng không làm điều đó được, tức làm tự thân con người vươn cao một cách tự giác vì chỉ đụng đến vùng lý trí chứ không phải vùng tâm linh của con người. Lý trí chỉ biếu cho con người sự hợp lý để phục vụ đời sống, trong khi thể hiện tâm linh giúp cho con người bay bổng, như sự khác nhau giữa một bài luận chứng kinh tế và một bài thơ. Tôn giáo là cái cửa mở lên trời của ngôi nhà nhân loại. Nhờ cái cửa ấy ánh sáng nội tại trong con người được khêu lên làm rực rỡ ngôi nhà của mình".*

Nếu những thay đổi bên ngoài cho phù hợp hoàn cảnh mới mà vẫn giữ nền tảng đạo lý căn bản, chúng ta không nên quan ngại. Nhưng chẳng may nền tảng ấy không còn được tôn trọng. Điều đó giải thích tất cả những bất thường, những quái thai trong mọi lảnh vực mọi cơ cấu mọi cấp, mọi ngõ ngách.

Sự vắng bóng một nền nhân bản là sự tự sát chung, sự diệt chủng mà Lương Lệ Huyền Chiêu có ý quan ngại. Thật vậy nếu mọi người không được định hướng và huấn tập, cơ vật sẽ sinh ra cơ tâm (vật chất sẽ tạo ra con tim máy móc). Như đem thi ca kêu gọi giết người, ca ngợi máu. Môn khảo cổ đã nêu ra trường hợp nhiều nền văn minh tiến bộ đã diệt chủng vì quá tàn bạo, giết nhau miên mãi. Môn tiền sử học cho rằng loài khổng long đã ăn thịt nhau mà mất đất. Dân tộc Khmer sẽ còn gì nếu có thêm vài Pol Pot?

Để thoát khỏi bi quan, hy vọng các bạn chia sẻ với Huỳnh Trịnh Tuyết Hoa quan điểm sau đây

Nhiều thứ có thể đổi thay theo thời gian và xã hội hôm nay. Cạnh nó còn có những giá trị bất biến...Hòn sỏi đã chìm vào sông sâu và nằm lại ở đó, chỉ có những vòng sóng ở bề mặt lan ra và tan biến.

Hòn sỏi chìm sâu đó có sức nặng rì kéo những sợi dây làm giềng mối cho thiên nhiên, lòng mẹ, lòng người, tình thầy cô trước những lớp sóng phi nhân tính. Bốn giá trị nêu trên trong thế vận hành nuôi dưỡng nhau. Tôn giáo cho ta khả năng phân biệt thiện ác, xấu tốt, cho ta sự trong sáng tâm linh để nhìn cuộc đời, lịch sử ngắn dài một cách chân phương xa rời những cảm tính (che khuất bởi tham sân si). Từ đó ta có nền giáo dục thực sự khai phóng. Rồi giáo dục sẽ hung đúc sự hướng về siêu nhiên....

Và những thân hữu Ninh Hòa sẽ tiếp tục con đường đã đi, mở thêm những phương hướng mới. Các bạn sẽ mở rộng thêm "biên giới mềm" của Ninh Hòa. (Biên giới mềm chỉ là bình mới rượu cũ để chỉ ảnh hưởng rộng lớn của một quốc gia tuy diện tích thực sự rất nhỏ như Do Thái, Anh Quốc). Biết đâu một ngày gần đây, trang web nầy sẽ thành một nơi hội tụ những tư tưởng kiểu một "think tank", một đầu cầu phát triển cho Khánh Hòa, vùng phụ cận và cả VN. Trời sẽ không phụ kẻ có lòng.

 Phần tôi, tôi là một dòng sông cạn

Trong ngõ cụt tôi mất dòng hứng khởi

mất đã lâu từ ngày em xa biệt

trong ngõ cụt tôi mất triệu ý thơ

và mưa nắng hằn lên đường sinh tử.*

Tôi chỉ có những cảm thức rất tầm thường như những cảm thức trong đời sống hằng ngày dành cho những sự việc bâng quơ. Nhưng khi viết những dòng nầy tôi thêm hai chữ để có cái nhan đề: Cảm thức vô biên dành cho Ninh Hòa. Tôi nuôi dưỡng một cảm thức tràn bờ, khỏi những điều đã đọc, khỏi những hình ảnh nhân thể trên màn ảnh, đến những gì chưa được nói ra, hay đã nói ra mà không được ghi lại. Như trong hình ảnh cổ điển tây phương, tiếng cành khô ngã xuống trong rừng sâu, không ai nghe, nó có hiện diện hay không. Tôi muốn dành cảm thức cho Ninh Hòa, không riêng gì cho ninhhoa.com.

Tôi vẫn thương mến một Độ Ngạn đi tìm màu sắc của nhớ, mất hút trong nỗi nhớ ngang trời, song song với lời ca ngợi khúc luân vũ khỏa lấp cái hổn mang nơi cao nguyên hoang sơ  trong cố gắng của một nhà giáo trẻ. Tôi vẫn ngồi trên chiếc xe ngựa lung linh, chiếc xe ngựa từ Thành Diên Khánh chở cả hoa xuân và hoa lòng của Đào thị Thanh Tuyền vào những năm quê nhà thanh bình tương đối và ngắn ngủi trước khi trầm mình vào một đêm dài, một đêm đen. Tôi cũng chia sẻ với Vũ Ca sự lo âu vịnh Nha Trang sẽ trống không, trống rỗng, chỉ còn là khối nước mặn với những phế thải của con người.

Tôi muốn đem cảm thức đến những người dấu kín tư duy, thiếp đi, lạnh người đi, với những mối sầu không để lộ trước cảnh bể dâu ngang ngược phi luân. Tôi đưa cảm thức ấy đến những ai mất khả năng biểu lộ tâm tình bằng ngôn ngữ vì thiếu cơ duyên vì bất túc thân thể; đến những người không thể hòa nhập với đời sống mới, chênh vênh như con cá trên đất khô. Tôi thương mến một ai không tiền mua rượu phải đi quanh Xóm Bánh ngửi mùi hèm phơi bánh như có kẻ không tiền ra chợ lấy vỏ trái sầu riêng đem về nhà ngửi cho thơm đỡ ghiền.

Xin cảm ơn các văn hữu, các thân quyến của gia đình Ninh Hòa cơ hội bày tỏ cảm thức vô biên dành cho tất cả: những ai những gì đã thấy, những ai những gì chưa thấy. Những lời uất nghẹn, những phẩn nộ dưới cái tĩnh nhiên của quân tử khi mất cánh đồng xanh, những thiện niệm cho đồng loại, những khát vọng thầm kín như tiếng cành cây khô trong rừng tiếp nhận bởi loài vô tình. Mong cảm thức vô biên của tôi đến tận đó; kèm theo một mong ước rất người: uống chén rượu không men nơi Xóm Rượu. Không phải là ly bôi mà Đường Du Hào chưa từng uống trước khi ly biệt. Mà là một hợp bôi trong ngàn triệu kiếp luân hồi sinh tử quyến vấng vào một góc trời mà ngôn ngữ của loài hữu tình gọi là Ninh Hòa, nơi có Sông Dinh, có Chợ Dinh, có tiếng guốc gỗ khua buồn trưa nắng, có những giọt mồ hôi mướt tóc mây.

 Georgia USA, tháng bảy 2009

Tôn Thất Tuệ

 Ghi chú:* Trừ ba trường hợp Phạm Thiên Thư, Phạm Xuân Đài và tác giả, các lời trích đều lấy từ ninhhoa.com

 >> Cảm thức vô biên dành cho Ninh Hòa (kỳ 1)

VỀ TRƯỚC

 

Mọi thông tin về Website xin gởi đến webmaster@ninhhoatoday.net