QUI KHUYEN HOC NINH HOA

 

HOME

TRANG VĂN

TÁC GIẢ

 

 

 

 

TÁC PHẨM

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bác Phó Qua

Bước xuống xe, Đông ngỡ ngàng nhìn quanh. Quang cảnh lạ hoắc, khác hẳn ngày anh bỏ nhà ra đi. Không lẽ trí nhớ của mình cùn đến mức không nhận ra con đường đất dẫn vào nhà? Anh nhìn lại cây cầu xe vừa chạy qua. Đúng là cây cầu nối liền hai làng Bình Liêm, Thủy Tú; có lẽ vừa được tu sửa nên rộng hơn, bề thế hơn, duyên dáng hơn với hai hàng điện, nghển cao cổ cò. Xa xa, đồi cát chập chùng dưới nắng. Đúng là con đường này rồi. Đông thấy mắc cỡ và có chút cay đắng trong lòng, vội xách hành lý lầm lũi bước qua đường. Một đám con nít tò mò nhìn theo. Con đường đất xưa kia cho bụi mù vào mùa khô, bùn nhão nhoẹt mùa mưa, thông thoáng phình ra ép vào, nhà này muốn sang nhà bên cạnh chỉ cần một bước. Nay con đường vẫn là đường đất nhưng thẳng tắp, hai bên là hàng rào bằng gạch, dây kẽm gai hay bằng lưới mắt cáo. Nhà nào cũng có cửa ngõ, lạ lùng hơn có cả chậu hoa cây cảnh.

 Tiếng nhạc, lời hát từ nhà hai bên đường vọng ra, khiến Đông có cảm nghĩ mình đang đi trên một đoạn đường đầy quán cà phê ở một thị trấn nào đó. Đông rẽ vào con hẽm, tần ngần dừng lại trước cánh cổng gỗ. Thanh chắn đã mục được thay bằng một tấm thiếc lỗ chỗ nhiều lỗ nhỏ. Khoảng sân hình như quá rộng, quá dư thừa không khí đối với nếp nhà ngói tàn tạ, thảm hại như ông già bệnh tật chờ chết. Một nỗi thương tâm bào bọt cả người, nghèn nghẹn nơi sóng mũi.

 Đông và Nam, đứa em trai út, ngồi trên chiếc giường tre kê dưới mái hiên. Cây me già cạnh nhà bác Lý trước kia ngả bóng sang nhà anh đã bị đốn tiệt từ lúc nào. Bao quanh ngôi nhà là một hàng keo trồng cách khoảng. Những sợi dây kẽm gai gớm ghiếc từ thân keo này đến thân keo khác, nhốt ngôi nhà từ đường, một thời là nơi người dân Thủy Tú nhìn vào khâm phục. Đất vẫn cho bụi mù mỗi khi gió nổi. Nắng vẫn chát chúa, nặng chịch như muôn ngàn tia kim loại cắm xuống khoảng sân. Không khí oi bức đến thế, nhưng Đông lại sung sướng hít lấy hít để. Nam nói : “Ở đây nắng hỗn nước bần lắm anh à. Chẳng có cây nào sống nổi, ngoài me”. Đông thích thú khi nghe cụm từ nắng hỗn nước bần của Nam, sau đó lại ngớ ra. Chẳng lẽ Nam cho mình mới từ bên Mỹ, bên Nga về. Mình là thằng lạc loài, không biết nắng, gió, đất nước tại đây đã giành hết, ôm gọn hết sự khắc nghiệt, cằn cỗi lẽ ra phải chia đều cho những chỗ khác. Đông chỉ cây táo Thái Lan đứng ngạo mạn giữa sân. Nam nói : “Trồng được bảy năm rồi. Em chẳng hiểu tại sao nó sống nổi, xanh tốt. Thấy người ta trồng, em bắt chước”.  Chuyện nhà chuyện cửa lan sang chuyện xóm làng. Nam cho biết bác Phó Qua vẫn còn sống. Đông giật mình trợn ắt hỏi :

- Bác Phó Qua còn sống?

Quả là điều kỳ lạ. Làng Thủy Tú có cái huông khó lý giải, chưa ai sống quá 70 tuổi. Gia đình nào có người trên 60, con cháu đã lo sẵn hậu sự. Nếu còn sống thêm ngày nào là phước phần của gia tộc. Nếu có chết thì chẳng ai lạ lùng thắc mắc. Bình thường như ngày đến đêm đi. Trên bước đường phiêu bạt, Đông đã nhiều lần đem nỗi thắc mắc này ra truy vấn bạn bè. Người thì bảo tại cái số của làng không ở trong cung cao tuổi. Người thì bảo 70 năm là quá dài đối với đời một con người. Người thì dựa vào khoa học lập luận đổ thừa làng Thủy Tú quá nghèo, thiếu chất dinh dưỡng cho người lớn tuổi. Những câu trả lời vô tội vạ ấy lại khiến cho Đông nhiều lúc nhọc lòng day dứt. Chẳng lẽ mình xa quê vì muốn sống lâu. Tính cho tròn, năm nay bác Phó Qua đã 75 hay 76 tuổi. những kỷ niệm đã chực sẵn lúc nào từ trong ngõ ngách ký ức tranh nhau kéo về như một trận lũ. Đông hụt hơi ngợp thở mà nhớ. Xoay tròn như con vụ mà nhớ. Nỗi nhớ phình ra bên này chưa kịp xì hơi, lại bung ra như một chiếc bong bóng đủ màu sắc chỗ khác. Nhớ và nhớ. Nhớ như từ trước đến giờ chưa từng biết nhớ, chưa có dịp nhớ. Nhớ đến nỗi Đông quên bén Nam đang ngồi bên cạnh…

-Bác Phó ơi, bác Phó !

Nghe tiếng người, con vện đang nằm dưới gốc me chồm dậy sủa ầm lao ra cổng. Thấy Đông, nó vẫy đuôi kêu ư ử mừng rỡ “ Có bác Phó ở nhà không mày?”. Con vện ngước lên sủa vài tiếng. “Tao vào nhé”. Nói xong, Đông mở cánh cổng tre, lách vào và khép lại. Con vện quấn quít dưới chân. Đông âu yếm xoa đầu nó. Có tiếng người trong nhà tranh vọng ra: “Đứa nào đó?”. “Cháu đây”. “Thằng Đông hả, vào đi cháu”.

Gọi là nhà, thật ra chỉ hơn cái chòi vịt, nằm dưới tàn me, mái tranh vách đất. Chiếc chõng tre đặt một góc, đối diện là  bếp, có ba viên đá làm ông táo. Nước đang reo trên siêu thuốc đặt trên một hỏa lò đầy thạn vụn. Không bàn , không ghế, không tủ. Một chiếc chiếu cũ mèm trải ra giữa nhà làm nơi ăn cơm tiếp khách. Không khí trong nhà ẩm thấp có mùi mốc. Đông nói:

- Sao bác không mở cửa sổ cho thoáng?

- Trở trời, bác thấy hơi mỏi mệt khó chịu trong người. Cháu giúp bác chống liếp cửa lên.

Gió cùng nắng ùa vào. Bác Phó đầu trùm chiếc khăn lông màu cháo lòng, mặc bộ đồ bà ba đen bạc thếch, đắp ngang bụng một cái mền có nhiều miếng vá đủ màu, đủ hình, đủ kích cỡ chồng chụp lên nhau. Rờ lên trán bác, Đông la to:

- Bác bệnh rồi, để cháu chạy về lấy thuốc cho bác uống.

Bác Phó ngăn lại: “Khỏi, khỏi, bác đã uống thuốc Nam rồi. Cháu rót giùm cho bác một chén”. Uống xong chén thuốc, lát sau bác tươi tỉnh:

- Nghe nói cháu sắp sửa vào tỉnh học phải không?

- Dạ, độ một tháng nữa.

Bác Phó hớn hở :

- Thật hiếm có. Làng ta từ trước đến giờ chỉ có ba cháu và cháu là đi xa học. Ráng học nghe cháu. Thành tài về giúp làng xóm.

Đông dạ một tiếng ngon lành. Đầu óc thằng bé 10 tuổi chẳng biết nó giúp cái gì cho làng. Đông rụt rè nói:

- Bác, nghe ba cháu nói, bác giỏi võ lắm. Bác dạy cho cháu vài miếng phòng thân.

Bác Phó nhìn Đông chậm rãi nói:

- Ba cháu thật lắm chuyện. sao ba cháu không dạy?”.

Đông trố mắt ngạc nhiên: “Ba cháu có biết võ nghệ gì đâu”. Bác Phó mỉm cười :“Cháu lầm rồi, hồi trẻ ba cháu giỏi võ nhất vùng. Bác là đàn em của ba cháu”.Đông há hốc miệng. “ Nhưng thôi, ba cháu muốn quên thời oanh liệt của mình cũng có lý do. Riêng bác không thể dạy cho cháu được”. Đông buồn thiu, bác Phó vuốt tóc Đông nói :

- Cháu thì hiền nhưng cộc. Nếu nhịn không nổi phải ra tay, thì địch thủ không bj tàn tật thì cũng bị nội thương. Không khéo lại rơi vào cảnh hối hận giày vò như ba cháu.

Thấy Đông vẫn còn tiu nghỉu, bác Phó gợi ý:

- Nếu cháu muốn học đàn, bác sẽ dạy cho. Vì tiếng đàn làm cho con người trầm lại lắng vào tâm hồn mình, để cái thiện bung ra xóa tan cái ác..

Chẳng biết bác Phó học hành bao nhiêu mà lời ăn tiếng nói hàm súc sâu xa nghe bùi tai lắm. Nói xong, bác đứng dậy với tay lên đầu cửa sổ lấy xuống một cây đàn bầu. Thân đàn sạch bóng. Bác nói, giọng buồn buồn :

- Cây đờn này đã theo chân bác rời bỏ xứ Quảng đi khắp sơn cùng thủy tận. Cuối cùng dừng lại đây vì một món nợ ân tình.

Bác để thân đàn lên hai vế, hai tay xoa nhẹ cây đàn, âu yếm như một đứa con. Bác dùng hai ngón tay đánh trốc một tiếng. Con vện từ ngoài chạy vào nằm im dưới chân bác.

- Đời bác, ngoài ba cháu, chỉ còn cây đàn và con vện. Chó trong làng đều là con hay cháu của nó.Bác nuôi nó từ khi theo ba cháu về đây. Ba cháu nhỏ tuổi hơn bác nên phải làm em. Nếu xét về tài đức, ba cháu đáng làm sư phụ của bác.

Bác cứ nói.  Đông chỉ một mực quan sát cây đàn, lạ lùng vì chỉ có một dây. Tay trái bác đặt hờ hững lên cần đàn cong cong. Tay mặt cầm que tre. Hai mắt bác lim dim như nhập thiền, đầu hơi cúi xuống. Bác khảy nhẹ một tiếng, nghiêng tai nghe. Một dòng âm thanh bật ra rồi từ từ … từ từ mất hút. Nắng bên ngoài bực bội chao đảo trên cánh đồng, hầm hè trên những bụi duối mọc lẫn lộn trong khu nghĩa trang, gây gổ hàng xương rồng chẳng biết ai đem trồng trước nhà bác. Nắng ve vãn muốn nghe đàn, nhưng đành hậm hực riết róng hàng me, dừng lại trước sân chầu chực.

 Đông thì chờ, bác vẫn ngồi bất động. Rồi bỗng nhiên một chùm âm thanh dịu dàng, dìu dặt ngân lên như tiếng chuông chùa buổi chiều nắng mỏi, kéo đàn trâu lững thững về chuồng. Đông quên mất bản tính nghịch ngợm, ngồi nhẹ nhàng xuống bên con vện, mắt nhìn sợi dây đàn căng ra dùn lại theo điệu nhún của cần. Âm thanh này vừa khai sinh, chưa kịp có cuộc sống trọn vẹn, đã vội lẳng lặng nhường chân cho kiếp sống mới tượng hình. Từ trong lòng bác Phó đẻ ra những âm thanh, chưa kịp nuôi dưỡng đã giết chúng đi khi chưa vừa ý. Chỉ là khúc dạo đầu, Đông đã mê mẩn. Nó không còn nhớ gì cả.  Chuyện học võ, chuyện phải rời quê vào một nơi xa lạ để tiếp tục con đường học vấn, chuyện xa bạn, xa những người thân đã bị những âm thanh kỳ diệu dưới bàn tay bác Phó nuốt chửng. Âm thanh bây giờ từng tiếng thánh thót, như những cánh hoa rơi lả tả xuống đất. Cánh hoa chưa kịp chạm mình vào đất, bị gió thổi quật lên bay vào hư không. Tiếng đàn vút lên, cao, cao ngất như tiếng hú gọi bầy của loài thú hoang đi lạc. Rồi như con nước lìa thác rơi tõm xuống vực trầm đục, tiếng đàn não nùng quặn thắt sà xuống tận cùng của sự sầu nhớ. Khoảng lặng thinh là tiếng khóc thầm, tiếng gọi thầm. Âm thanh lại nối tiếp âm thanh như muôn ngàn đường máu trong tim cựa mình tìm cách ra ngoài.

Đông nhìn bác Phó xuất thần, hòa vào âm điệu, thân người trụ vững như một nhà sư đắm chìm trong câu kinh kệ, lạ lùng tự hỏi một người quê mùa cục mịch làm sao có được tiếng đàn hay đến thế. Một dây đàn có thể tỏa ra vô vàn giai điệu. Mỗi giai điệu lại tiết ra cơ man tín hiệu tình người nồng nàn, sâu lắng, dàn trải. Càng nghe Đông ngỡ ngàng nhận ra, trong khu rừng âm thanh có một lối mòn quen quen khi mờ khi tỏ, một âm vang mơ hồ quen thuộc, một cái gì đó ẩn khuất, lấp ló gần gũi. Phải chăng là tiếng tù và đúng hẹn rúc lên chào mời người đánh cá ra khơi. Phải chăng là bìm bịp kêu nhắc con nước lớn đem phù sa ký gửi vào bờ. Tai nghe, óc nghĩ, Đông lần mò theo tiếng đàn tìm kiếm. Đông vỡ òa trí nhớ. Tiếng đàn của bác Phó na ná như tiếng hò thở than của một người. Đông la lên:

- Cháu nhớ ra rồi !

Tiếng đàn im bặt, bác Phó sực tỉnh. Con vện đứng lên chạy ra cửa.

- Cháu nhớ cái gì?

- Nghe bác đàn cháu nhớ đến giọng hò của  bác Lý. Nhưng mà… bác Lý thường hò giữa khuya.

Gương mặt bác Phó buồn hiu. Đông nghĩ có lẽ mình làm bác mất hứng. Tuổi ấu thơ của Đông được nuôi dưỡng trong máu tiếng hò và tiếng đàn. Giữa khuya rúc trong chăn nghe bác Lý cất giọng hò ngọt ngào ru giấc ngủ. Nửa chiều quanh quẩn bên con vện nghe bác Phó ngậm ngùi gửi âm điệu đi xa.

“ Bác Lý chết hồi nào vậy em?”, Đông buồn buồn hỏi Nam. “Hơn 5 năm rồi. chính tay bác Phó đào huyệt, xây mả”. “Thế là mất một giọng hò, không biết tiếng đàn còn hay không?”. Nam nhìn anh trai ngơ ngác, chẳng hiểu gì cả.

 Đông mua vài hộp sữa, vài gói trà, vài ốp nhang. Trước khi ghé thăm bác Phó, Đông ra khu mả 9 cái, nghĩa trang làng Thủy Tú, thắp nhang cho ba, những người trong dòng họ và bác Lý. Gọi là mả 9 cái, vì không biết từ bao giờ, có 9 cái mả vôi to lớn nằm song song trong một vòng thành cũng bằng vôi. Không người thăm nom chăm sóc, cây hoang cỏ dại mọc tùm lum che kín quần thể xa lạ này. Hồi nhỏ Đông có lần tò mò hỏi ba lý lịch những người nằm dưới 9 cái mả bề thế ấy, ba cũng lắc đầu không biết. Mả ba  và bác Lý cách nhau không xa được xây tươm tất, sạch sẽ. Trên mỗi mả có ba cây nhang đang cháy đỏ. Đông lạ lùng thắc mắc, mới sớm mai ai đã ra đây thắp nhang. Nắng nhẹ mơn man cảnh vật. Gió chưa về. Khói nhang thong thả bay lên. Đông  như nghe lại lần cuối giọng hò bác Lý lên cao. Từ khu nghĩa trang, con đường đất ngoằn ngoèo men theo mép ruộng dẫn đến nhà bác Phó. Một bên, xương rồng chùm lé mọc cao hơn đầu người; một bên, đồng ruộng trải dài ngút mắt. Đang là mùa khô, đất hở hang nứt nẻ, Đông đứng thật lâu trước ngôi nhà bác Phó. Anh thèm và chờ một tiếng chó sủa. Sân đất trơ trọi. Mái rơm tuềnh toàng, đầy lá me khô. Vách đất hơi xiêu nhiều nơi có lỗ hổng. Cửa cái mở toang. Đông gọi :

- Bác Phó ơi !

Không người đáp. Đông lo lắng. Nam có cho biết bác Phó bệnh mấy ngày nay bỏ thói quen đứng một mình giữa khu mả hiu quạnh. Hay là bác đã… Đông chui vào nhà. Cảm giác gai gai ập đến. Mãi một lúc sau mắt Đông mới quen dần ánh sáng mờ nhạt dịu yếu rơi rớt trong nhà. Chõng tre lạnh lẽo. Bếp tắt. Đông chống liếp cửa sổ lên. Nắng ùa vào. Chẳng có gì thay đổi. không gian đã hẹp, thấp, vật dụng trong nhà lại bề bộn thiếu sự ngăn nắp của người nội trợ khiến Đông ngậm ngùi, thương cảm. Sống là gửi, nhưng đâu đến nỗi buông lơi ngày tháng bềnh bồng tội nghiệp như vậy.  Ngước nhìn cây đàn bầu, Đông sững người. Mồ hóng, máng nhện bám đầy. Như có một luồng gió độc chui vào người, Đông ngồi vật xuống chõng tre, căng mắt nhìn vào những lỗ hổng trên vách. Những cọng rơm còn dính hờ trong đất mỏi mòn chờ rơi xuống. Vắng con vện, thiếu tiếng đàn, nhà bác Phó quạnh hiu trống trải hơn túp lều giữa đồng không mông quạnh.

- Đứa nào trong nhà đó?

Tiếng một người già vang lên ngoài cổng. “Bác Phó”, Đông mừng rỡ la to bước nhanh ra cửa. Một ông già, tóc bạc trắng cả đầu, vai vác cuốc, chân đất, bận quần đùi, tay cầm bó lá. Cái rắn chắc nông dân còn sót lại trên tấm ngực trần. Bác Phó hớn hở :

- Đông hả, bác tưởng cháu quên làng, quên xóm rồi.

Răng bác vẫn còn. Người vào tuổi này mà còn răng là để ăn con ăn cháu. Bác Phó đâu còn ai để mà ăn. Đông phì cười :

- Cháu vừa về, nghe tin bác bệnh nên sang thăm.

-  Ba cái bệnh vặt đó làm sao hạ bác nổi.

Bác vỗ vai Đông, quan sát từ đầu đến chân, tiếp “ Chà, trông ngộ ghê, mới ngày nào…có dẫn vợ con về không?”

- Dạ không, cháu chỉ về một mình.

Bác nắm tay Đông:

- Vào nhà đi cháu, rồi kể cho bác nghe những năm tháng vừa qua cháu làm gì, cuộc sống có đỡ không?

Đông thấy chua xót, thương cho người dân làng mình. Hỏi thăm một người đi làm ăn nơi xa, chỉ dám dừng lại ở chữ “đỡ”. Xét cho cùng cái đỡ ở nơi khác vẫn khá hơn cái trung lưu ở làng này.  Đông hỏi:

- Bác đi thăm ruộng về hả?

- Ruộng nương gì. Bác già cả, tứ cố vô thân, lấy ai làm giúp mà nhận đất. Bác đi tìm vài cây thuốc nam.

Hai bác cháu ngồi trên chiếc chiếu giữa nhà. Đến lúc này Đông mới thỏa thích ngắm nhìn, quan sát bác. Và cái thắc mắc sâu kín nhất lại quay về. Tại sao bác Phó vẫn còn sống. Nhiều người trẻ hơn bác, đầy đủ điều kiện sống hơn bác , trong đó có ba Đông, bác Lý, lần lượt rủ nhau ra đi. Chỉ duy có bác, thách thức khó khăn, chịu đựng gian khổ, vẫn ung dung sống không nhờ vả vào ai, không cần sự bố thí của ai. Bác sống dai dẳng như cây duối trong nghĩa trang. Năm tháng khô hạn chỉ làm cho thân cây oằn lại, nhưng lá vẫn xanh, thân vẫn vững. Đông dè dặt thăm hỏi:

- Không có ruộng rẫy, bác làm gì để mưu sinh?

Bác lại cười, nụ cười dung dị khác hẳn nụ cười trước kia tuy trẻ trung nhưng có một chút gì kiêu ngạo “ Bác giúp người ta lấy cốt”. Đông trợn to mắt, lạ lùng quá đỗi.

- Cháu đừng ngạc nhiên. Bác đâu còn sức mà đào mả. Khi nhận lời một gia đình nào, bác đi tìm những người khỏe mạnh rảnh rỗi kêu nhập bọn. Họ có nhiệm vụ đào, tới lúc phát hiện điểm nghi ngờ hay đã đến áo quan, lúc đó bác mới ra tay. Nhờ sống lâu, nhiều kinh nghiệm, nên bác biết đâu là xương, là cốt lẫn lộn trong đất.

Quả thật Đông không tưởng tượng nổi, về già bác Phó lại làm cái nghề lạ hoắc này. Đông ngước nhìn lên cây đàn. Một thoáng buồn gợn lên trong đôi mắt bác.

- Lâu rồi bác không mó đến nó. Ba cháu mất, con vện buồn bỏ ăn rồi chết, sau đó bà Lý nguội tanh lòng trần cũng bỏ ra đi. Bác còn đờn với ai? Trước kia mỗi chiều ba cháu thường đến chơi. Hai anh em ngồi uống trà, bác đờn cho ba cháu nghe. Con vện đến nằm bên cạnh. Bác không biết nó có hiểu gì không. Nhưng mỗi khi thấy ba cháu nó mừng rỡ, sủa ngầu lên như bắt buộc ba cháu ngồi vào chiếu. Còn bả… thời khắc giọng hò cất lên bác thuộc nằm lòng. Không biết giọng hò ấy trú ngụ trong bác từ lúc nào.  Nó đã gò giấc ngủ quen của bác vào vòng quen lệ. Khi khuya sắp bước sang cơn ngủ nướng, bác đã thức dậy, đun ấm nước, pha một bình trà, nhâm nhi hút thuốc rồi chờ. Hút cạn tàn thuốc, giọng hò của bả lặng lẽ đến bên sân, thăm hỏi, an ủi, xúi bác cầm đàn gảy theo. Bác đờn nhưng chẳng biết mình đờn bản gì, chẳng theo qui luật, chẳng bị gò bó. Giọng bả vút cao, tiếng đờn bác lên cao, giọng bả xuống trầm, tiếng đờn bác nương theo. Giọng bả giăng ngang lan ra khắp xóm, tiếng đàn bác thanh thản theo sau. Bác đờn như bám đuổi theo một cái bóng, bám đuổi một mối tình vô vọng…

Bác im lặng, đắm chìm vào cõi nhớ, mơ màng tưởng đến bước đi  của tiếng đàn rón rén theo sau giọng hò. Nỗi khổ đau của người già đến rất nhanh, chỉ cần một tia lửa mồi nhỏ cũng đủ cháy bùng lên, lan ra cả một cánh rừng, nhưng cũng mau bị dồn nén, chặn lại. Chỉ còn phảng phất qua giọng nói :

-  Bác thật ích kỷ. Trong khi một số người bỏ tất cả để đi làm đại sự. Bác thì dùng cả tuổi trung niên của mình chạy theo một giọng hò, vẩn vơ tiếc nuối một thời oanh liệt nhỏ nhoi.

 Bác thở một hơi dài. Nắng rực rỡ bên ngoài, nhảy múa trên tàn me. Tiếng thở dài như gió mang hơi mặn biển khơi chui vào khu rừng mù u xa ngái bên kia cánh đồng ..

- Khi bả chết, bác muốn đập cây đàn nhưng không nỡ. Thôi thì sống mang theo, chết để lại như một kỷ niệm cho đời. Bây giờ một âm thanh phát ra bác làm không nổi, chứ nói chi đến  một bản đàn.

Gió đã nổi lên, bụi bay mù trước sân. Những hạt bụi li ti lộ nguyên hình trong nắng chui lỗ hổng vào nhà như những ngọn đèn xe hơi trong sương mù. Tiếng bác Phó âm thầm :

- Cháu có biết tại sao bác làm nghề hốt cốt không?

Đông ngồi im, có ý nghĩ mình đang là bóng dáng của ba trước mắt bác Phó.

- Cháu chưa già nên chưa cạn thấu một thứ tình, người đời gọi là thâm tình. Nó được kết tinh bằng thời gian trộn lẫn lòng người. Thăng trầm của thời thế không thể xói mòn hay đánh bật nhúm rễ nghĩa tình đã ken chặt vào nhau thành một khối. Nó như ngọn gió giữa trưa hè oi bức mơn trớn đời người, bát nước ngọt ngào chảy vào cổ dưới gốc cây sau thời khắc đầm đìa mồ hôi chịu trận cái nắng nóng muốn dìm người xuống ruộng. Nó là tiếng nói bằng mắt, hơi thở của trái tim và là sự hòa nhịp giữa tình và tình. Cháu lạ lùng khi thấy bác vào tuổi này còn sống. Chính bác cũng ngạc nhiên không hiểu tại sao mình lại có thể sống dai đến thế.Chẳng lẽ tại thời trai trẻ mình có nhiều tội lỗi sai trái? Hay tại cõi xa xôi nào đó người ta chưa cần đến bác? Hay tại cái lối sống lưng chừng trước kia, ban ngày nuôi Quốc gia, ban đem tiếp tế Việt cộng, mũi tên hòn đạn đều chê? Hay bác đã tập được tánh quên, nên bệnh tật xa lánh.? Hay tại cái tâm nguyện của bác chưa hoàn thành?

Bác mơ màng im lặng. Gian nhà nín thở đồng cảm với bác. Đông nghe đâu đây tiếng nói mơ hồ xa xôi huyền bí của ai đó? Của ba, bác Lý, con vện? Hay bác đang trải lòng mình cho ba nguồn thương yêu ?

- Bác làm nghề hốt cốt là mong có ngày được lấy hài cốt của ba cháu, của bả đem về đoàn tụ với dòng họ tại khu nghĩa trang mới bên đồi cát. Bác sung sướng biết bao, cuộc đời sẽ trọn vẹn biết bao khi sờ vào được những lóng xương của ba cháu. Bác sẽ thấy mình là người hạnh phúc nhất trên cõi đời này nếu được nâng niu nắm xương của bả, mà lúc còn sống bác chưa một lần dám nắm lấy bàn tay. Nhìn cây đàn ngày một bụi bám đầy, bác đau lòng. Nhiều đêm giữa khuya bác nghe như có tiếng đàn nức nở, than van, xin bác một cuộc đời khác. Bác khó lòng tặng nó cho ai. Có những thứ trên đời người ta chấp nhận mất ngay cả bản thân. Có một thứ người ta không thể để mất. Đối với bác hiện tại đó là cây đàn. Vì chính nó nhắc cho bác biết bác còn sống. Cũng chính nó báo cho bác biết thời gian không còn nhiều, mau mau hoàn thành tâm nguyện.

 Người già thật tinh tế. Những nghĩ suy, ham muốn manh mún trong lòng người đối diện khó thoát khỏi cái nhìn tuy đã dịu yếu vẫn thừa già dặn ngăn lại điều khó xử. Đông hết dám mở miệng, gạt bỏ ý định xin cây đàn. Anh ngậm ngùi ra về với ý nghĩ trong đầu : Cây đàn đi theo bác Phó, tiếng đàn lẽo đẽo theo sau giọng hò bác Lý. Còn Đông mang theo cả tiếng đàn và giọng hò đi đó đi đây, để có lúc thấy mình thật hạnh phúc khi được nằm thanh thản, lánh xa vòng hệ lụy trên một con thuyền lơ lửng giữa dòng sông tình nghĩa.

Hồ Dạ Thảo

Tên thật : Nguyễn Cáp Lài

Cư ngụ : 65 Lê Lợi – Thị trấn Ninh Hòa

 Bài cùng tác giả & liên quan

>> Con người và thư viện

>> Người tạc tượng

>> Kể chuyện trong đêm

>> Bão

>> Nơi dòng sông hội tụ

>> Những cái bóng

>> Giới thiệu tập truyện ngắn "Tiếng Hú" - Độ Ngạn

>> Những góc khuất cuộc đời - Nguyễn Khắc Phê

 

 

 

VỀ TRƯỚC

 

Mọi thông tin về Website xin gởi đến webmaster@ninhhoatoday.net