QUI KHUYEN HOC NINH HOA

 

HOME

TRANG VĂN

TÁC GIẢ

 

 

 

 

TÁC PHẨM

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TẤM GƯƠNG TRUNG LIỆT

Dưới triều Nguyễn, đời Vua Thiệu Trị (1841-1847), ở chân đèo Bánh Ít (về phía Phước Đa), có một gia đình nông dân nghèo chuyên sống về nghề cắt tranh đế (loại cỏ dùng để lợp nhà). Bà vợ tên là Hoàng Thị Nghĩa, tên người chồng thì chẳng ai nhớ. Có lẽ tên bà còn lưu lại đến đời sau, do ở tấm lòng dũng cảm, trung liệt ít có của bà, dám liều chết cứu chồng. Ông bà chỉ có một người con trai, nhưng bị tật ở chân.

Như thường ngày, buổi trưa nọ, hai vợ chồng cùng vào núi Ổ Gà để cắt tranh. Chồng đi trước, vợ cầm đòn xóc (nhọn hai đầu dùng để gánh tranh) và cái câu liêm (giống như lưỡi hái, nhưng có cán ngắn) đi sau. Vào đến bãi tranh, chị vợ hoảng hốt khi nhìn thấy một con cọp lớn đã vồ chồng té ngã.

Ngày xưa, ở vùng núi Ổ Gà nổi tiếng là có nhiều cọp. Còn nhớ, theo lời truyền khẩu của bà con, cách nay khoảng sáu, bảy mươi năm về trước, ban đêm cọp thường hay về làng bắt gà, vịt, chó, heo, đôi khi cả bê con. Thưở ấy, dân làng thường đốt lửa về đêm đánh trống, chiêng để xua đuổi cọp đi. Bởi vậy, ngày xưa người dân Ninh Hòa không mấy ai không nhớ câu :”Cọp Ổ Gà, ma Hòn Lớn ”.

Thông thường, cọp hay ẩn núp trong đám tranh để rình mồi. Cọp đang mừng vì bắt được con mồi, bỗng thấy người vợ đi tới, cọp nhe răng gầm gừ, chuẩn bị xông tới. Nhìn thấy cảnh tượng thương tâm trước mắt, người vợ bình tĩnh, lừa thế, dùng đòn xóc đâm vào miệng cọp. Hai bên giằng co. Chị vợ cố gắng hết sức mình đẩy cọp lùi dần. Hơn nữa, lòng căm thù đã tăng thêm phần can đảm và sức mạnh cho chị vợ. Cọp bị đau, cứ lùi dần, lùi dần, không thể nào xốc tới.

Kết quả, người chồng bị cọp vồ, bỏ mạng, cọp bị đòn xốc đâm chết, người vợ bị kiệt sức cũng chết luôn tại chỗ.

Bà con lối xóm thấy vợ chồng đi cắt tranh mãi đến tối vẫn không về, nên sáng hôm sau kéo nhau đi tìm. Vào đến núi, phát hiện thi hài hai vợ chồng nằm bên xác cọp. Họ đem xác hai người về mai táng và góp công, của xây dựng ngôi miếu nhỏ để thờ hai vợ chồng sống nặng tình thủy chung, trung liệt ( * ).

Cha mẹ qua đời, lúc đó cậu bé khoảng 7-8 tuổi. Cậu sống bơ vơ, hàng ngày đi xin ăn. Nhà cửa dần bị hư sập, cậu phải vào ở luôn trong miếu. Xin được thứ gì, cậu cũng đem về miếu dâng cúng cha mẹ trước khi ăn – giống như lúc còn sinh tiền. Mấy năm sau, cậu bé cũng bị bệnh chết.

Thời gian sau, miếu bị hư sập, dân làng lần nữa góp tiền xây lại miếu khác.

Trong miếu, ở giữa thờ hai chữ “Song Linh“, hai bên là hai câu liễn thờ :

“Thôn phu, dã phụ năng thiên cổ ”

“Hiếu tử rung thần thử nhất tâm ”.

Cách nay khoảng hai mươi năm, ngôi miếu vẫn còn, tương truyền rất linh thiêng. Hiện nay, di tích xưa chỉ còn là một miếu nhỏ, dạng thủ kỳ nằm cách miếu cũ khoảng 10 mét.

Lòng trung liệt, sự can đảm đó phải chăng được xuất phát và hun đúc từ nền đạo đức tốt đẹp tự nghìn xưa mà khởi xướng là Đức Khổng Phu Tử - người thầy của muôn đời.

Lê Trọng Hường

( * ) Theo quyển Xứ Trầm Hương của Quách Tấn

Thì ngôi miếu này, xưa có tên là miếu Ông Hổ.

VỀ TRƯỚC

 

Mọi thông tin về Website xin gởi đến webmaster@ninhhoatoday.net