QUI KHUYEN HOC NINH HOA

 

HOME

TRANG VĂN

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đây là bài tham luận của Phó Giáo sư Tiến sĩ Dương Tấn Nhựt – một người con ưu tú của quê hương Ninh Hòa, đọc tại Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam lần thứ VI, vừa diễn ra trong hai ngày 26 và 27/4/2010, tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình, Hà Nội.

 

Chỉ vì hai tiếng "Việt Nam"

                                                    

PGS. TS. Dương Tấn Nhựt

 

Tôi nghĩ rằng tuổi trẻ luôn gắn liền với những ước mơ, hoài bão và tinh thần xông pha, tiến thủ. Tuổi trẻ ngày nay muốn sống đẹp, sống có ích trước hết phải sống có lý tưởng, ước mơ, mục đích rõ ràng và trung thành với mục tiêu của chính mình, dám hy sinh bản thân vì sự phồn vinh của đất nước, sự phát triển của dân tộc.

Tôi sinh ra và lớn lên tại huyện Ninh Hòa (tỉnh Khánh Hòa) nhưng chọn Đà Lạt là quê hương thứ hai của mình. Thuở nhỏ, tôi đọc sách hoặc nghe các thầy cô dạy ở bậc phổ thông cơ sở, phổ thông trung học thỉnh thoảng nhắc đến tên của các nhà khoa học tên tuổi và luôn tự hỏi rằng họ là ai và làm sao nghĩ ra được những điều hay ý lạ mà mình thì không thể như vậy! Mơ ước ấp ủ và hy vọng một ngày nào nghiên cứu tìm kiếm một điều gì đó mới lạ để có thể viết được một vài trang sách cho nhiều người đọc. Suy nghĩ rất lạ kỳ của tôi kể từ lúc ấy lại là một mục tiêu xuyên suốt với những năm học đại học cùng những ngày tháng du học tại Nhật Bản và nhiều nước khác trên thế giới. Khi tôi còn ở Việt Nam, chưa có cơ hội được biết những nền khoa học hiện đại trên thế giới, nỗi khát vọng của tôi được đền đáp trong thời gian học tập miệt mài tại trường Đại Học Đà Lạt, những kiến thức này đã dẫn dắt tôi trong những tháng ngày học tập tiếp theo tại Nhật Bản.

Đến Nhật Bản, điều mà tôi quan tâm trước tiên là tìm đến thư viện trường Đại học Kagawa (Nhật Bản), tôi đã choáng ngợp với một biển sách mà thiết nghĩ sẽ rất vất vả để tìm hiểu vì vốn tiếng Anh rất hạn chế của mình. Đến từng kệ, chọn những cuốn sách, tôi lật từng trang và từng trang, tìm kiếm xem có nhà khoa học Việt Nam nào được công bố ở các loại sách và tạp chí quốc tế hay không, nhưng thật đáng buồn, vì gần như không thấy tên những nhà khoa học Việt Nam xuất hiện trên các thông tin chính thống này. Lác đác một vài cái tên người Việt Nam; nhưng họ là những Việt kiều sống xa đất nước, trong đó có nhiều giáo sư nổi tiếng mà bây giờ tôi có dịp gặp họ tại Việt Nam như Giáo sư K. Trần Thanh Vân. Từ những điều tai nghe, mắt thấy tôi nghĩ đến việc phải cố gắng học tập để đạt được những công bố như vậy, nhưng than ôi đây là một việc vô cùng khó khăn các bạn ạ. Từng năm, từng năm trôi qua, tôi miệt mài nghiên cứu và có được những số liệu tốt, nhưng viết báo khoa học là một việc làm ngoài khả năng và tôi chưa thể hình dung ra, nhưng không làm được điều này thì tôi không thể lấy được tấm bằng Thạc sĩ và Tiến sĩ tại Nhật Bản. Tôi thật sự bị áp lực và đôi lúc cảm thấy tuyệt vọng. Tôi học được nhiều ở các bạn sinh viên quốc tế cùng lớp và ở các Giáo sư Oluf. L Gamborg (Mỹ), GS. K. Trần Thanh Vân (Pháp) và GS. Michio Tanaka (Nhật Bản), là những người đã cho tôi những kiến thức đầu tiên về viết báo tiếng Anh. Từ những thuật ngữ lạ lẫm, qua những lối diễn tả mộc mạc, ngây ngô khởi đầu của tôi đã được chỉnh sửa tận tâm bởi các người thầy đáng kính… dần dần tôi được tự tin hơn. Để có được công bố đầu tiên tại Mỹ trên đối tượng cây hoa Lily (năm 1998), tôi phải mất 2 năm để hoàn thiện bài báo khoa học này. Tôi hạnh phúc khi nhìn thấy nó được in trên một tạp chí có uy tín.

Hiện nay, tôi là thành viên phản biện của hơn 10 tạp chí quốc tế chuyên ngành. Trở thành thành viên phản biện báo quốc tế, điều đó làm cho tôi rất vinh dự và tự hào vì mình đã đóng góp vào quá trình đánh giá, đồng ý hay không chấp nhận một ý tưởng khoa học và đôi khi đó chính là không chấp nhận ý tưởng của những nhà khoa học lớn ở những quốc gia có nền khoa học phát triển. Tôi cũng đã nhiều lần phản biện cho một số luận án Tiến sĩ ở một số quốc gia mà chuyên môn nghiên cứu khoa học chuyên ngành phù hợp với chúng tôi.

Điều tôi hạnh phúc lớn nhất trong đời là được nhà xuất bản hàng đầu thế giới Kluwer Academic Publishers mời tôi viết sách chuyên khảo, cuốn sách dày 530 trang mà tôi đã phải mất 3 năm để viết, các bạn có thể tìm thấy cuốn sách này dễ dàng thông qua rất nhiều trang web nói về nó. Xa hơn nữa các bạn có thể thấy hơn 3000 trang web nói về hoạt động nghiên cứu của tôi trong và ngoài nước. Tôi đã viết 5 cuốn sách tiếng Việt về “Công nghệ Sinh học Thực vật” do nhà nước và các tổ chức khác đặt hàng. Đến nay tôi đã chủ biên và tham gia viết 15 cuốn sách (9 ở nước ngoài của Mỹ, Hà Lan, Ấn Độ, Nhật Bản; và 5 ở trong nước).

Hướng dẫn sinh viên thực tập/luận văn tốt nghiệp cho gần 200 sinh viên với xuất thân từ các thành phần xã hội khác nhau (Tôn giáo và các dân tộc anh em) từ các bậc Cử nhân, Thạc sĩ, Tiến sĩ của hơn 10 trường Đại học (từ Đà Nẵng trở vào). Hiện nay đã có hơn 70 sinh viên du học tại nhiều quốc gia. Hiện tại một số đã trở về và một số đang còn tiếp tục theo học. Họ là những sinh viên thạc sĩ, tiến sĩ dẫn đầu của những trường đại học và có nhiều công bố khoa học nổi tiếng tên tuổi như Tạp Chí Nature. Nhiều khi tôi lại được an ủi bởi các học trò, điều đó đã giúp tôi vượt qua được những lúc tưởng chừng như không thể tiếp tục công việc vì điều kiện nghiên cứu qúa thô sơ chật vật, sự đãi ngộ cho khoa học còn rất khiêm tốn. Tôi cũng có thời gian tham gia giảng dạy và seminar ở một vài nước. Điều này cho tôi cảm nhận thế giới xung quanh rất gần gũi, sinh viên ở đâu vẫn thế nhưng điều kiện học tập của họ thì quá tuyệt vời. Nghĩ về những sinh viên mà tôi đã dạy tại Việt Nam thì thấy các em còn thiếu nhiều thứ, từ điều kiện học tập đến cả thông tin.

Hơn 190 công bố, giờ đây tôi cảm thấy mình thật sự may mắn vì một phần nguyện ước của tôi đã thành hiện thực, tên của tôi một ngày nào đó cũng sẽ bị lãng quên nhưng 2 chữ VIỆT NAM hiện hữu bên tôi trong địa chỉ làm việc in trên các tạp chí và sách quốc tế vẫn lưu giữ muôn đời. Nhiều nhà khoa học có thể chẳng thể nào đọc hay nhớ được tên tôi, nhưng với hai chữ VIỆT NAM thì họ có thể đọc và nhớ đến mà không thể nhầm lẫn được. Những cuộc điện thoại từ Mỹ, Nhật, Đức… và hàng ngàn những lá thư xin bài báo khoa học từ nhiều quốc gia, cũng như nhiều nghiên cứu sinh từ nhiều quốc gia xin làm luận án Tiến sĩ hoặc sau Tiến sĩ, mặc dù họ chưa từng gặp và chưa được biết nhiều về tôi. Họ chỉ biết tôi là nhà khoa học có nhiều công bố mà họ đang quan tâm, bất chấp tuổi tác và dân tộc nào, … từng ấy thôi đã động viên tôi rất nhiều và tôi cảm nhận thế giới dường như nhỏ lại và rất đáng yêu.

Tôi cũng có vinh dự tham gia trong ban chủ tọa của một vài hội nghị quốc tế và ngồi bên cạnh các nhà khoa học nổi tiếng. Trở về Việt Nam đến nay đã hơn 8 năm với bao nhiêu lời mời chào từ nhiều Viện nghiên cứu và Trường Đại học ở Nhật Bản và nhiều nước khác với đồng lương hấp dẫn gấp vài chục lần lương tôi hiện có; thiết nghĩ con người ta sinh ra ai cũng có mưu cầu được làm việc và được sống trong sự đãi ngộ khi họ có năng lực, nhưng tôi vẫn rất muốn có thêm một điều là “ta về ta tắm ao ta”. Trở về nhà những ngày đầu tiên thật sự là một sự đấu tranh tư tưởng bởi rất có ít đề tài dự án mà tôi có thể tham gia được, tìm cách thích nghi tôi cũng đã thấy vất vả và khó tồn tại. Rất nhiều bạn bè tôi về nước đã nghỉ việc hoặc bỏ cơ quan cũ hay trở lại Nhật Bản hay đi các nước khác. Sau 8 năm tôi đã chủ trì 9 đề tài/dự án và là thành viên tham gia của nhiều đề tài khác, ngần ấy chắc các bạn đã hình dung ra tôi phải làm gì. Ngày ngủ 5 tiếng, trong 8 năm qua, hình bóng quen thuộc của giáo dân sống cạnh viện là một ngọn đèn vẫn thường xuyên thắp sáng đến tận 1-2 giờ sáng và có khi đến sáng khi tiếng chuông nhà thờ vang lên (4h30 sáng), tôi làm một mình hoặc có khi cùng các đồng nghiệp và sinh viên miệt mài nghiên cứu. Cứ thế thời gian cứ trôi đi và trôi đi. Tôi từng mơ ước, nếu một ngày có 48 tiếng thì hay biết bao, để làm gì các bạn biết không? Chỉ đơn giản là cần thời gian để ngủ và thư giãn. Mặt khác, tôi cũng dành thời gian thích đáng cho công tác đào tạo và giảng dạy. Với tôi để có cơ hội đào tạo thế hệ trẻ, trang bị cho họ kiến thức và bản lĩnh khoa học là nguyện vọng của tôi trong thời gian còn lại để những đóng góp nhỏ bé này được nhân lên nhiều nơi và đào tạo những người sống có ích cho xã hội.

Đi nhiều, nhìn ngắm nhiều và càng thấy trách nhiệm của mình càng lớn, bản thân chỉ mong muốn các thế hệ trẻ hôm nay có thêm niềm tin và nhiệt huyết trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mong muốn ngày càng có nhiều phát minh, sáng kiến để phát triển đất nước. Tôi nghĩ ước mơ hay khả năng trong mỗi con người như viên ngọc còn tiềm ẩn. Nếu chúng ta có cơ hội mài giũa, tôi luyện thì nó sẽ tỏa sáng. Những điều không thể rồi sẽ trở thành có thể, hiện hữu xung quanh chúng ta từ lúc nào mà chúng ta không hay biết.

Khoa học kỹ thuật thế giới đã đi những bước rất dài, những thành quả khoa học hiện nay cũng chẳng khác gì những câu chuyện thần thoại trong các chuyện cổ tích hay trong phim viễn tưởng, khi con người đã làm được nhiều điều kỳ diệu như nhân bản hàng nghìn sinh vật giống y nhau, trồng cây trong khoảng không vũ trụ, … Để có được những thành quả vĩ đại đó, đã có hàng ngàn, hàng triệu con người miệt mài, dám xả thân vì sự nghiệp khoa học cao cả. Làm khoa học với rất nhiều đặc thù riêng, khác với những ngành nghề khác, đó là tính phản biện, phủ định những gì không phù hợp, không đúng đắn cho dù người phát ngôn điều trước đó là ai, ở vị trí nào. Và khoa học là như thế các bạn ạ.

Trong cuộc sống hội nhập như hiện nay, nếu thanh niên chúng ta không tự xây dựng cho mình niềm tin dân tộc, sức mạnh của ý chí, độc lập trong suy nghĩ và hành động thì chúng ta sẽ chỉ là con rối của trò chơi quốc tế toàn cầu mà thôi. Thanh niên Việt Nam chúng ta với truyền thống “con Rồng, cháu Tiên”, năng động, sáng tạo và cần cù thông minh thì ai cũng thừa nhận. Song, các thói quen trì trệ và ỷ lại, thiếu hiểu biết sâu sắc về lịch sử, truyền thống cha ông cũng như những vấn đề nóng bỏng của thế giới hiện nay là những cản trở không nhỏ. Thách thức lớn nhất là thách thức từ chính mình, không tự vượt qua được các trói buộc mà mình đã tự buộc vào. Cho nên đổi mới tư duy vẫn là điều quan trọng nhất. Biết đón nhận cái mới, biến kiến thức học được thành trí tuệ, kỹ năng của mình, đó là điều chúng ta cần làm. Chiến đấu với chính mình, vượt lên chính mình là yếu tố then chốt để đi đến thành công!

Các bạn thanh niên thân mến, tôi biết rằng cuộc sống hiện tại của chúng ta còn nhiều khó khăn, vẫn còn đây đó những mảnh đời bất hạnh, chúng ta hằng ngày phải đối mặt với những thách thức khắc nghiệt. Nhưng chúng ta hãy hát lên lời ca “Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta mà tự hỏi ta đã làm gì cho Tổ quốc hôm nay”. Các bạn có biết, sau chiến tranh thế giới thứ 2, ở Nhật Bản đã có những lớp người sẵn sàng hy sinh tuổi thanh xuân hay thậm chí cả cuộc đời của họ để làm nên một đất nước Nhật Bản ngày hôm nay. Vậy chúng ta tự hỏi dân tộc Việt Nam chúng ta thì sao? Trong quá khứ chúng ta đã có rất nhiều con người vĩ đại, họ là những anh hùng, hy sinh cho sự nghiệp đấu tranh bảo vệ đất nước, nay trong thời bình chúng ta cũng cần rất nhiều con người như thế trên mặt trận xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hỡi các bạn trẻ, chúng ta hãy tin vào sức mạnh vĩ đại của dân tộc Việt Nam, chúng ta hoàn toàn có thể xây dựng một đất nước Việt Nam giàu đẹp và nhân ái, nếu mỗi người chúng ta đều nguyện sống hết mình CHỈ VÌ HAI TIẾNG VIỆT NAM!

 

PGS. TS. Dương Tấn Nhựt

VỀ TRƯỚC

 

 

Mọi thông tin về Website xin gởi đến webmaster@ninhhoatoday.net