QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC VĂN

TRANG VĂN

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ĐƯỜNG ĐÊM

 

 

Tú ngồi bật dậy, mở to mắt nhìn quanh. Màu đen kìn kịt, sền sệt phủ kín. Anh có cảm nghĩ mình bị chôn trong cái ao lật úp. Tay chân rã rời, đầu óc mụ mẫm. Anh không nhớ, không biết mình đang ở đâu. Yên lặng, tĩnh mịch, cảm giác sờ sợ bò dọc theo sóng lưng. Anh bật quẹt ga. Ánh sáng chưa kịp soi rõ chỗ ngồi, vội tắt phụt vì hơi thở của anh. Lẩm bẩm chửi thề, bật quẹt lần nữa. Anh đang ngồi trên một tấm phản. Bên cạnh là chiếc bàn nhỏ ôm gọn cây đèn hột vịt và một chai nước . Anh vặn tim đèn lên. Căn phòng hẹp, bề bộn đồ đạc, cửa đóng kín, trông giống như một chái bếp. Anh cũng chưa biết mình đang ở đâu. Vừa đưa chân xuống định tìm dép, anh nghe có tiếng gầm gừ. Một bóng đen từ góc tối phóng đến. Anh hoảng hốt rụt chân lên, vói tay chụp cái gối. Tay chạm phải một vật giá lạnh: con dao!. Anh lạ lùng ngạc nhiên. Sao lại có con dao đặt dưới gối? Con chó giương mắt hăm dọa. Anh nhìn nó, nhe răng cười, chắc lưỡi làm quen. Đuôi nó ve vẫy. Anh nhớ ra. Con Mực của vợ chồng Đào, chủ ngôi nhà.

 

Buổi chiều Đào mời vợ chồng anh dự sinh nhật cưới. Vợ bận, anh đi một mình và hứa sẽ về sớm. Bậy quá, anh than nhỏ. Vẫy vẫy tay thân thiện với con chó, anh đưa chân tì dép, tay kia thủ con dao. Con chó đứng yên. Anh đi lần ra cửa, nó lẽo đẽo theo sau. Gió ùa vào, Tú rùng mình, ngọn đèn chao chao. Giắt con dao vào kẹt cửa, anh đi thật nhẹ dọc theo hành lang ra nhà trước. Tất cả cửa phòng đều đóng. Không một tiếng động nhỏ. Cả nhà vợ chồng Đào đã say ngủ. Chắc vào khoảng hai giờ khuya, Tú đoán thế. Khoảng sân trước nhà Đào trống trải. Đường vắng tanh. Trên cao, sao như những con đom đóm lạc. Anh làm vài động tác thể dục. Giờ này mà gọi Đào dậy, mở cổng để về, khó coi quá, ê mặt với vợ nó. Không lẽ trở vào cái chái chết tiệt kia ngủ tiếp? Thúy đang đợi ở nhà. Cái thói chờ anh về mới cùng ăn cơm của Thúy, nhẹ nhàng nhưng hiệu quả hơn những lời trách cứ. Con chó cứ quanh quẩn bên chân. Anh làm gan ngồi xuống, vuốt ve nó, nói nhỏ :

 

- Mày cho tao leo cổng ra về nhé.

 

Con chó liếm tay anh. Anh bước đến bên cổng, hai tay nắm chấn song, mắt nhìn động tĩnh con chó. Nó ngước mắt nhìn anh. Tú đưa một bàn chân đặt vào một ô của cổng. Con chó vẫn đứng yên. “Cảm ơn mày nhé, tao đi đây”.

 

Đoạn đường dẫn ra mé lộ chính mê ngủ thin thít. Tiếng cát rạo rạo dưới chân. Hai bên, nhà như những chiếc hộp dính vào nhau, trơ trơ tối thui. Mấy ngọn đèn đường ngủ gà ngủ gật, nhiễu ánh sáng vàng khè. Bóng theo chân làm bạn.Lâu rồi mới có dịp dẫn bóng đi chơi. Đứng ngay lề giao lộ, Tú nhìn dọc nhìn xuôi. Nơi đây, ban chiều, quán xá ồn ào tấp nập tạo nên cái sinh khí ẩm thực vỉa hè của lớp người thường thường bậc trung thị tứ, bây giờ trống trơn hoang lạnh như một góc nghĩa địa. Sương xuống đầy. Tú rùng mình trước cái trống vắng ghê rợn bao quanh. Những cái vừa có đó đã vội thoát khỏi tầm nhìn. Một cảm giác bồng bềnh, thừa thải tứ chi, thịt xương hình như bị phân hóa…

 

Buồn ở đâu lếch thếch kéo về, hối hận ở đâu lò dò mò đến. Không tìm được công ăn việc làm, đâu phải lỗi của Thúy. Cái sở học cũ rích được trát lên cái thói kiêu ngạo khinh thường người khác tự anh trang sức cho anh, chứ đâu phải do Thúy áp đặt, phết dấu lên người anh. Những trào lưu mới lạ, những ý tưởng thực dụng đến mức trơ trẽn, những cảm thụ hối hả chạy đuổi theo thời gian, lối sống ngoại nhập thách thức nét tư duy của anh nhiều lúc khiến anh chao đảo nghĩ rằng mình bị tụt hậu, đâu phải lỗi của Thúy. Sự xa lánh của những người bạn một thời sống chết có nhau chỉ vì bất đồng quan điểm, không chịu đựng nỗi thói kệch cỡm kẻ sĩ nửa vời của anh, đâu phải lỗi của Thúy. Thế sao anh nỡ đem buồn bực phiền muộn của mình bắt Thúy phải hứng chịu. Mới đây, tình cờ Tú gặp lại người bạn cùng khóa. Trước kia nó ngu ngơ, khù khờ, bây giờ trông như một Việt kiều thứ thiệt. Nó lôi Tú vào nhà hàng, gọi rượu tây, thức nhắm, quăng lên bàn một gói ba số, chăm chăm nhìn Tú rồi phán: “Trông mày rách quá, chán đời à? Bỏ quách xứ này đi, vô Sài Gòn làm cho công ty tao. Tao sẽ bố trí cho mày làm một công việc thoải mái”.  Nghe nó nói cũng ham, cũng háo hức, nhưng suy đi tính lại, anh đành cảm ơn, từ chối.

 

Có tiếng nước thở dài theo gió bên tai, kéo đôi chân Tú nặng nề đi về hướng cầu Dinh. Chỏi hai tay vào lan can, anh nhìn dòng sông ngửa mặt lên cầu, lên bầu trời yên ắng không có nổi một đám mây. Nước dưới chân cầu âm thầm trôi. Trăm năm trước nước vẫn trôi như thế này ư? Hàng tre hai bên bờ xào xạc. Ngày nào thì tre già? Những mụt măng có nhớ thời làm bạn với con nước hiền hòa này không? Tú xoa nhẹ lớp xi-măng. Những vết lở, vết nứt gờn gợn, ram ráp da bàn tay. Cầu đã già, chờ thay da đổi thịt sánh vai cùng cây cầu mới, hướng hạ nguồn, ngày ngày gồng mình gánh chịu những chuyến xe vào Nam ra Bắc. Nước từ cầu Dinh nhởn nhơ đến cầu Mới vẫn là nước sông Dinh, thế sao mặt nước hai cầu có chỗ lại cau có? Người sinh ra và lớn lên tại  đây, với người từ chỗ khác về định cư tại đây, đều là người cả, sao lại có sự dè chừng khi xét đơn xin tuyển dụng? Nếu anh hạ mình, xum xoe, bợ đỡ … có thể…

Nổi lên trong sương về hướng thượng nguồn, cây Cầu Sắt trông như chiếc cầu treo rớt nhịp. Tú quen với Thúy trên con tàu chợ Nha Trang - Phú Yên qua lại trên cây cầu này. “Con gái Ninh Hòa hôi lông vịt” , câu nói đùa đã trói chặt chân anh, giữ riết anh ở lại xứ này. Hôm ấy cùng đứng tựa cửa sổ con tàu, thích thú nhìn cảnh vịt loạn đồng, Tú nói như thế để trêu anh bạn, quê ở đây. Nào ngờ, vừa nói xong Tú đã nghe một tiếng hứ sắc gọn. Người bạnh hích vai anh :”Tật ba hoa châm chọc của mày có người trị rồi”. Tú nhìn cô gái ngồi cạnh bạn. Cô cũng nhìn anh vẻ ngạo mạn rồi ngó bâng quơ ra cửa sổ con tàu, nói trống không: “Chê người mà không nhìn lại bản thân, thơm tho gì ba cái miệng nói bậy”. Người bạn cười to “ Hay lắm, Thúy nói tiếp đi, mặt thằng này dày lắm”. Lúc hai người cưới nhau, vào đêm tân hôn, Tú nói nhỏ vào tai Thúy :” Chúc mừng mối tình lông vịt”.

 

Thoắt một cái đã mười năm. Cảnh xưa còn đó, cầu còn đó. Hàng ngày con tàu chợ già nua vẫn lẩm cẩm kéo theo vài toa rệu rã qua lại, trả cho xong kiếp nợ. Tiếng còi tàu, nhiều lúc như tiếng thở dài của người già bệnh tật. Đàn vịt vắng bóng, bỏ lại gốc rạ chơ vơ sau mùa gặt. Ừ nhỉ, tại sao mình không làm tàu chợ mà thích danh phận của tàu tốc hành? Suy cho cùng, tàu nào cũng thế thôi, chịu chung số phận lướt trên đường ray đến một nơi định sẵn. Tú thở dài. Cây cầu sắt đã chìm hẳn trong sương.

 

Thúy hẳn đang chờ. Tú rứt tay ra khỏi lan can cầu giá lạnh. Con đường trước mặt rộng, thoáng sáng hơn. Im lặng kéo thêm chăn đắp lên những ngôi nhà. “Tánh ngang chướng kiêu ngạo của anh không ai chịu nỗi”, Thúy nói như vậy, khi nghe anh báo tin mất việc. “ Bỏ bớt phần nào cái tôi đáng ghét của anh, em và con đỡ khổ”, Thúy than phiền khi thấy anh ngồi trầm ngâm trong đêm. Thằng người bằng xương bằng thịt của anh chấp nhận tất, nhưng ép anh chạy theo thường tình chỉ vì miếng cơm manh áo, trở thành một sinh vật chỉ biết thở, ngó bằng đôi mắt vô hồn, đếm từng ngày trôi qua, xót quá. Trước kia chẳng phải Thúy yêu anh vì cái ngông, cái tôi nổi loạn sao? Những ngày vả mồ hôi tìm việc làm, ngồi như khúc gỗ kê khai lý lịch. Những lời từ chối khéo, những đôi mắt hỗn xược không thèm nhìn vào tờ đơn. Tú ê chề chán nản. Thúy tìm cách an ủi. Anh mắc cỡ xấu hổ, thấy mình không còn là chỗ dựa, bóng mát cho Thúy và con.

 

Khi thấy anh vẫn không dứt bỏ chất kệch cỡm khó ưa, không hòa nỗi vào thức trạng cuộc sống, vẫn phiêu bồng với những ý nghĩ xa xôi, cộng với dư luận như một loài nấm độc manh nha xâm nhập vào gia đình, Thúy tỏ thái độ bất mãn bằng cách im lặng. Tú muốn chết quách đi khi không còn nghe Thúy cằn nhằn. Tiếng nói ấy dù có mặn chát, hỗn hào va chạm, làm tổn thương, anh vẫn cần, để biết anh vẫn hiện hữu, anh là anh, chớ không phải là cái bóng u uất của thằng Tú.

 

Bỏ những ý nghĩ như đám ma trơi rớt rơi theo từng phiến đã xếp đều đặn trên lề đường, Tú đi vào khu chợ. Đường về nhà không còn xa. Chợ như một pháo đài hoang trống. Những ngọn đèn bảo vệ bao quanh hình như không biết ngủ. Chúng thả ánh sáng rãi đều trên từng bậc thềm, mái hiên, tán dù, xoi mói cả những chiếc mùng giăng tạm giữa hai đống hàng trái cây. Chiếc xe rác đứng yên há cái miệng to đùng. Và chó không biết từ đâu tụ về đây cả bầy. Chúng sủa ầm lên, rủ nhau tru tréo khi thấy Tú liêu xiêu giữa đường. Anh cúi xuống nhặt một hòn đá. Lũ chó tháo chạy. Anh mỉm cười : “Ngay cả chó cũng không ưa mình”!

 

Tú dừng thật lâu trước cổng. Đèn trong nhà còn sáng.

 

Hồ Dạ Thảo

Thị trấn Ninh Hòa

 

Cùng tác giả & bài liên quan

 

>> Thở dài - Hồ Dạ Thảo

>> Dư hương món ăn Ninh Hòa - Hồ Dạ Thảo

>> Bác Phó Qua - Hồ Dạ Thảo

>> Con người và thư viện - Hồ Dạ Thảo

>> Người tạc tượng - Hồ Dạ Thảo

>> Kể chuyện trong đêm - Hồ Dạ Thảo

>> Bão - Hồ Dạ Thảo

>> Nơi dòng sông hội tụ - Hồ Dạ Thảo

>> Những cái bóng - Hồ Dạ Thảo

>> Giới thiệu tập truyện ngắn "Tiếng Hú" - Độ Ngạn

>> Những góc khuất cuộc đời - Nguyễn Khắc Phê

 

Mọi thông tin về Website xin gởi đến : webmaster@ninhhoatoday.net

ninhhoatoday@yahoo.com