QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC VĂN

TRANG VĂN

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tản văn

 

Anh Ngốc - Kép hát bài chòi

Hình Phước Long

 

 

 

Cũng như nhiều làng biển khác, hàng năm làng Hà Liên quê tôi đều tổ chức cúng tiền hiền, để tỏ lòng nhớ ơn tiền nhân đã có công khai cơ, lập nghiệp. Làng tôi còn có lễ tế ông Nam Hải. Những ngày như thế diễn ra, cả làng xôn xao như vào hội. Thường thì sau lễ tế tiền hiền hay tế ông Nam Hải là những buổi hát bội kéo dài đến 3, 4 ngày đêm. Dân làng tôi say mê xem hát bội không bỏ sót một lớp tuồng nào cả. Nào là “Đào viên kết nghĩa”, “Phục Huê Dung đạo”, “Cổ thành”, “Phụng Nghi đình” rồi “Tiết Nhơn Quý chinh đông”, “Tiết Đinh San chinh tây”, “Lưu Kim Đính giải giá Thọ Châu Thành”, “Sơn Hậu”, “Tam nữ đồ vương”… đủ cả ! Lễ hội đi qua có khi đến nửa tháng, mà âm hưởng của những đêm hát bội vẫn cứ râm ran trên miệng người bàn tán.

- Bà Phàn Lê Huê sao mà bả mê ông Tiết Đinh San quá vậy ta? Người kia liền cãi lại.

- Bà cứ nói, Tiết Đinh San đẹp trai thế kia… Ai mà không mê cho được !

Người nọ cũng chẳng vừa: - Nhưng ông ấy là kẻ phụ tình, lẽo đẽo theo làm gì cho nó khổ cái thân ! Chị ngồi bên cạnh vừa đan lưới vừa góp chuyện vào : - Ông Tiết Đinh San ổng phụ tình, mà bà Phàn Lê Huê cứ mê, cứ theo thế nên mới có chuyện chớ…không như vậy lấy đâu ra tuồng ra tích !

- Ờ hén !  Mọi người tỏ vẻ đồng tình.

Cũng có những chuyện khác khá vui, mấy ông sồn sồn trong làng thì lại thích tinh nghịch. Đang khi bàn với nhau vở tuồng “Sơn Hậu”, ông nọ nói với ông kia :

- Khương Linh Tá với Đổng Kim Lân đúng là đôi bạn sinh tử có nhau. Chết rồi mà vẫn hiện hồn lên, soi đuốc dẫn đường giúp bạn thoát khỏi hiểm nguy !

Ông ngồi bên cạnh chen vào :

- Mẹ cha nó, cái thằng Tạ Thiên Lăng thấy mà phát ghét. Tui mà gặp cái thằng đó, là tui thụi cho chết liền !

Một ông khác lại nói giọng hài hước :

- Việc gì mà hung hăng vậy?Tui chỉ cần cho nó một câu “Tẩu Mã” là nó đi đời chứ cần gì phải ra tay!

- Câu hát của ông là gì mà ghê gớm vậy? Hát thử đi. - Ông nọ nói ra vẻ thách thức.Vẫn cái giọng hài hước, ông này hất hàm:

- Mấy ông nghe câu Tẩu Mã của tui nè ! - Ông ta lấy giọng rồi hát :

- Đổng Kim Lân hút thuốc

Khương Linh Tá lượm tàn

Tạ Đình Ôn nổi máu nghênh ngang

Đá chậu lửa bỏng mông bà Thứ !

Rồi liền chuyển sang điệu Nam Xuân:

- Lửa đỏ bỏng mông bà Thứ

Ôn Đình đổ vấy tại Thiên Lăng!

Bà Thứ, đây là thứ phi vợ của vua, tên là Tạ Nguyệt Kiều, bà là chị cả của Thái sư Tạ Thiên Lăng và đại tướng quân Tạ Ôn Đình. Tạ Thiên Lăng dựa vào uy dũng của Tạ Ôn Đình mà soán đoạt ngôi vua. Tạ Nguyệt Kiều giận hai em làm phản, bèn xuống tóc quy y vào cửa Phật, quyết giữ lòng mình trong sạch. Tích tuồng là vậy, dân gian lại làm cho nó méo mó đi, thế là mấy ông lại khoái trá ôm bụng mà cười bò ra.

Ngày nào cũng thế, hết nhóm này đến nhóm kia bình luận không ngớt. Đó là chuyện hát bội, còn cái thú mê xem hát bài chòi, thì dân làng tôi cũng có thể xếp vào hàng vô địch !

Tôi nhớ, làng tôi những năm 1957-1963 của thế kỷ 20, hầu như mùa xuân nào làng tôi cũng mời gánh bài chòi về hát. Gánh hát bài chòi mà làng tôi ưa chuộng nhất là gánh bài chòi ở Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Mà mê nhất là anh kép hát tên là Ngốc. Khi đi mời gánh về hát, chủ bầu cam kết phải có kép Ngốc, không có thì làng nhất quyết không chịu hợp đồng.

Thường thì chiều 28 Tết, gánh hát đã tranh thủ về tới làng rồi. Họ được bố trí ở trong trụ sở làng, hoặc ở phía sau hậu liêu của ngôi đình ở đầu làng. Một số đào kép chính thì được bố trí ở trong nhà dân, cùng đón năm mới với gia chủ. Trong khi ấy, anh hai Cát trưởng làng cùng thanh niên trong làng, đi vận động bà con, mượn trên mười bộ ván để ghép vào làm sân khấu. Sân khấu đặt ở trước trụ sở làng, nơi có một khoảnh đất trống, rộng, nơi đây là sân đá bóng hàng ngày của lũ trẻ làng chúng tôi. Mọi việc như thế là xong xuôi. Tối mồng một Tết gánh hát bài chòi bắt đầu hát.

Sân khấu không có trang trí màn cảnh gì cả. Gánh hát treo một bức phông trắng ở phía sau sân khấu là xong, khán giả thì xem cả từ ba hướng. Phía trước sân khấu, đặt một chiếc bàn và vài hàng ghế dài cho các vị bô lão có uy tín trong làng ngồi xem, đánh chầu và thưởng thẻ. Các mặt khác quanh sân khấu thì ai có ghế ở nhà, cứ đem ra mà ngồi…còn lại thì cứ tha hồ mà đứng.

Thời ấy, gánh hát bài chòi làm gì có tuồng tích mà hát. Chủ yếu là hát theo truyện thơ như : “Lục Vân Tiên-Kiều Nguyệt Nga”, “Thoại Khanh-Châu Tuấn”, “Phạm Công-Cúc Hoa”, “Lâm Sanh-Xuân Nương”. Có lúc bí tuồng quá, mấy ông bầu gánh lại lấy tuồng của hát bội như : “ĐịchThanh-Trại Ba”, “Cao Quân bảo-Lưu Kim Đính”, … chuyển mấy điệu hát Tẩu Mã, hát Khách thành ra điệu bài chòi để hô… Vậy mà đêm nào cũng diễn, có khi đến hai tháng ròng mà vẫn chưa hết tuồng, hết tích!

Gánh hát bài chòi về làng hát theo hai phương thức kinh tế. Từ mồng một đến mồng bảy Tết, kinh tế do làng bao trả hết. Tiền thưởng của bà con hay tiền thưởng thẻ của người cầm chầu, thì gánh hát hưởng 4, làng hưởng 6. Từ mồng tám trở đi, làng bao tiền gạo, cá. Tiền thưởng và tiền thưởng thẻ thì làng hưởng 4, gánh hát hưởng 6.

Có lẽ do phương thức kinh tế như thế, nên các vở tuồng như : “Thoại Khanh-Châu Tuấn”, “Phạm Công-Cúc Hoa”, “Lâm Sanh-Xuân Nương” bao giờ cũng là những vở được chọn hát ở giai đoạn sau mồng tám Tết cả. Té ra mấy ông bầu gánh cũng đáo để thay, bởi vì mấy vở này có nhiều đoạn bi thảm, dễ lấy nước mắt khán giả lắm. Thí dụ như đoạn Thoại Khanh dắt mẹ đi sang Tề quốc tìm chồng, mắt mẹ chồng thì mù, đường thì xa diệu vợi, phải đi qua bao nhiêu đèo ải…hai mẹ con dắt díu nhau đi xin ăn. Có hôm mẹ chồng đói quá, không biết lấy gì cho mẹ ăn, Thoại Khanh phải lóc thịt ở cánh tay của mình rồi đem nướng để dâng cho mẹ chồng ! Trời ơi, tình cảnh như vậy ai mà cầm được nước mắt ! Thế là mấy bà cứ lộn tiền vấn ở lưng quần ra, cứ thế vừa khóc vừa cho. Trên sân khấu diễn viên cứ tiếp tục diễn, đường sang Tề quốc có phải gần đâu. Thế là vở diễn lại tiếp tục kéo dài đến 3,4 đêm mà vẫn chưa muốn dứt.

Lại còn có cảnh bi thương nào bằng khi mẹ vừa mất, cha lại cầm quân ra biên thùy đánh giặc. Ở nhà bị dì ghẻ hành hạ dã man, hai anh em Tấn Lực, Nghi Xuân phải bỏ nhà trốn đi ra biên ải tìm cha !  Các em còn đang thơ dại, biên ải ở chốn nào các em không biết. Vừa đi ăn xin vừa lần dò tìm đường, gian nan, cơ cực không biết đâu mà lường. Tối đến nằm ngay nơi mộ mẹ mà cũng nào hay biết. Thương con, hồn ma Cúc Hoa hiện về sưởi ấm cho các con. Khi tiếng gà đã gáy tàn canh, âm dương đôi miền đành cách biệt, hồn mẹ và hai con bịn rịn chia xa trong nước mắt nghẹn ngào. Ôi chao ôi, còn gì đau xót hơn nào? Thế là khán giả già cũng khóc, mà trẻ cũng không cầm được nước mắt…rồi lại móc túi, lận lưng còn bao nhiêu tiền đem ra cho ráo trọi. Đường ra biên ải còn xa lắm, thế là Tấn Lực và Nghi Xuân lại tiếp tục trên đường gió bụi, tiếp tục ăn xin để tìm kiếm được cha.  Vở diễn lại kéo dài đến 4, 5 đêm nữa mới vào hồi kết !

Vở “Lâm Sanh-Xuân Nương” cũng nào có kém cạnh gì độ bi thương so với hai vở kia đâu. Vậy là vở nào cũng hồi 1, xong lại đến hồi 2, rồi hồi 3, hồi 4…

Tháng Giêng là tháng ăn chơi mà ! Dân làng biển tính tình vốn thởi lởi, chi tiêu lại phóng khoáng, chơi cho đến khi nào cạn túi thì mới chịu đi làm. Cuối cùng thì gánh hát bài chòi cũng trở về quê để làm ruộng, làm rẫy lo ổn định cuộc sống. Làng xóm cả tháng trời tiếng đàn, tiếng trống, tiếng hát xôn xao, tự dưng hôm nay im bặt. Ai cũng có cảm giác như mình đang hụt hẫng, thiếu vắng một cái gì đó. Nhưng sau đó vài ngày, thì làng trở lại xôn xao…Anh kép hát tên Ngốc một mình quay trở lại với làng !

Anh kép tên là Ngốc, thời ấy anh khoảng chừng 28, 30 tuổi gì đó. Hình như khi ấy anh cũng chưa vợ con gì thì phải. Anh là kép chánh của gánh hát bài chòi. Ngoài đời thì trông anh không có điểm nào đặc biệt cả, người dong dỏng cao, gương mặt anh hơi dài, da dẻ con nhà nông nên cũng đen sạm. Vậy mà anh luôn thủ những vai đắc địa như : Lã Bố, Cao Quân Bảo, Địch Thanh, Phạm Công, Châu Tuấn…Anh có tài hóa trang, nên trên sân khấu vai nào của anh cũng đẹp rực rỡ. Còn giọng hô bài chòi của anh thì không chê vào đâu được.

Thời đó, hô bài chòi khác với lối hát bài chòi của các đoàn nghệ thuật bài chòi bây giờ. Bài chòi khi ấy chỉ có một điệu hô duy nhất là điệu Xuân Nữ cổ. Nhưng lối hô thì lại rất sáng tạo, tùy theo tâm trạng và hoàn cảnh mà ứng dụng hơi hô cho hợp lý…lúc vui thì hô theo hơi Xuân, lúc buồn thì hô theo hơi Ai, lúc căm giận thì hô theo hơi Oán, khi tố cáo kẻ ác gian thì chuyển sang hơi Bắc…Tất cả đều giữ cái nền của điệu Xuân Nữ mà nên. Thường thì văn viết cho loại hô bài chòi này luôn là thể thơ lục bát biến cách. Câu dài, câu ngắn khác nhau, do đó mà có cách hô đạp nhịp rất hấp dẫn. Người hô phải có hơi thật dài, có lúc một hơi phải hô đến 4 hoặc 6 câu lục bát biến cách, hô cho đến lúc đứt hơi, rồi mới lấy hơi tiếp để đổ vào hò. Dân gian gọi đó là hô hay đến đứt hơi, hay đến nghẹn cả lời. Anh kép hát Ngốc là người được dân làng tôi mê như điếu đổ cũng từ cách hô ấy.

Anh kép hát Ngốc trở lại làng tôi không phải là để diễn vở theo tuồng tích nữa, mà anh trở thành người hô bài chòi tài tử, cũng giống như lối ca tài tử cải lương ở Nam Bộ vậy. Làng tôi cũng có một số anh chơi đàn cổ cũng khá hay, đàn ghi ta phím lõm thì có anh Bảy Lớn, anh Mười Du. Đàn nhị thì có anh Ba Quẹt. Trống chiến thì có ông Năm Đực. Kén Sô-na thì có ông Năm Sụi…thế là ban nhạc tài tử liền tập hợp lại, cùng với anh kép Ngốc tổ chức thành ban đờn, hô bài chòi tài tử.

Phải nói là, ban đờn, hô bài chòi tài tử này ăn khách cũng không kém gì gánh hát bài chòi trước đó. Nó hấp dẫn vì tất cả người đờn và người hát đều ngồi chung trên một chiếc chiếu. Khán giả thì cứ ngồi vây quanh, có khi khoái chí quá, khán giả còn ngồi len cả vào chiếu của ban đờn, ca nữa mới sướng chớ. Ban đờn cứ đờn, anh kép Ngốc hô cứ hô, đoạn nào thấy hay bà con yêu cầu hô lại thì được đáp ứng ngay, chẳng câu nệ gì cả ! Thỉnh thoảng có vị khán giả nào hứng chí, xin hô vài câu cho nó sướng cái miệng một chút, thì lại được ban đờn, hô bài chòi tài tử vui vẻ mời vào chiếu ngay. Có hôm anh kép Ngốc còn biến buổi đờn, hô bài chòi tài tử của nhóm thành ra buổi hướng dẫn lại cách hô bài chòi của anh cho bà con trong làng học theo. Thế là dần dà người dân làng tôi xem anh Ngốc như là dân của làng mình!

Anh kép Ngốc trở thành khách quý của làng tôi. Hết nhà này mời anh đến ở, đến chiêu đãi, lại đến nhà khác…Đến đâu anh cũng được cung phụng đầy đủ. Mỗi lần anh đến làng tôi chơi, phải đến cả tháng mới rời ra đi được. Khi anh rời làng, bà con lại góp tiền biếu anh rất hậu. Dù anh không nhận, bà con cũng nhất quyết không nghe.

Những năm 1964 và sau đó, chiến tranh diễn ra ngày càng ác liệt, làng tôi tản cư rồi trở về đến mấy lần, đời sống dân làng đói khổ, ngày Tết cổ truyền cũng không thể mời gánh bài chòi nào về để diễn được nữa. Và thế là anh kép Ngốc, mà làng tôi ai cũng yêu quí, từ đó cũng bặt tăm luôn ! Có một dạo, có người làng tôi gặp anh kép Ngốc đi bán chiếu…Họ nói anh gánh chiếu về đến làng Hậu Phước, cách phía đầu làng Hà Liên quê tôi chừng hơn 3 cây số, rồi ngồi đó mà nhìn về phía làng tôi trông dáng vẻ thẫn thờ, hình như anh đã khóc và sau đó ra đi. Từ đó không còn tin tức gì về anh nữa !

Chuyện cũ đã đi qua lâu lắm rồi, lớp trẻ làng tôi lớn lên sau này không ai biết gì về chuyện một thời của chúng tôi, tuy vậy lớp người của chúng tôi thì vẫn không sao quên được. Lần nào về cúng tiền hiền làng, có dịp ngồi cùng với những người đồng trang lứa, kể lại chuyện xưa, mọi người lại nhắc đến anh kép Ngốc…chợt lòng nghe lâng lâng thêm nỗi nhớ !

 

Hình Phước Long

 

- Hình Phước Long : Nhạc sĩ

- Tác phẩm nổi tếng : Gần lắm Trường Sa

- Quê : Xóm Rượu – Ninh Hòa

- Hiện sống ở Nha Trang

 

 

Bài cùng tác giả

 

>> Nuôi cò để bắt ruồi

            

 

Mọi thông tin về Website xin gởi đến : webmaster@ninhhoatoday.net

ninhhoatoday@yahoo.com