QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC VĂN

TRANG VĂN

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chuyện một người Ninh Hòa lưu lạc !

 

Giữa tháng Chạp, ngày giỗ má, chị về.

Cuộc gặp mặt không biết đã bao nhiêu năm xa cách. Chị em nhìn nhau, hai mái đầu đã chớm điểm sương!...

Nhìn chị mà rưng rưng nhớ lại, hình ảnh cô học trò giỏi giang, năng động của trường Bán Công ngày xưa, một trong những người học trò mà nhiều năm về sau, nhắc đến tên, người thầy dạy cũ vẫn còn nhớ mãi.. Rời lớp 9 Bán Công, chị học tiếp ở LaSan, vẫn nhớ ngày đó, khi chị từ Daklak về, trước mắt tôi sau 3 năm, chị đã là một cô gái mắt biếc môi hồng, nụ cười thắm tươi như cánh hồng ngân.

Chiến sự 1975, đã đưa rẽ nhiều mệnh đời theo những khúc quanh không thể nào tiên tri nổi! Cô gái đang tuổi dệt nhiều mộng nhiều mơ ấy, không vào được SG học hành như mơ

ước. Chị về học trường Kỹ Thuật ở Cầu Đá, và hỡi ơi, như định mệnh chọn lựa, chị đã gặp anh, người sau này chị lấy làm chồng, để từ đó, nhận lấy triền miên mệnh khổ, dở dang cả đời xuân sắc của mình.

Khi lập gia đình, cô học trò thông minh lanh lợi xưa nhanh chóng trở thành người đàn bà đảm đang quán xuyến mọi việc... Những năm cuối thập niên 70, rồi đầu 80, cuộc sống quá khốn khó, chị làm kế toán cho một cơ quan nhà nước, vẫn xoay xở đủ để nuôi con và dành dụm tiền cho chồng học tiếp Đại học ở SG. Anh rể tôi vốn cũng đào hoa, việc nhiều cô gái theo là lẽ đương nhiên, nhưng dẫu ai nói ra nói vào, chị vẫn tin tưởng vào tình yêu của chồng và tìm thấy cho mình niềm hạnh phúc tuyệt đối khi được yêu thương, chăm sóc hy sinh tất cả vì người bạn đời của mình. Thế nhưng ngày chị sanh đứa con thứ hai, cũng cận ngày giáp Tết - chồng vẫn không về, bởi lẽ anh cũng đang lo cho đứa con khác đang chào đời ở SG (mà về sau, chị mới biết). Thủy chung và chịu đựng tất thảy. Bạn bè chị nửa đùa nửa thật nhắc khéo :”Hình ảnh người phụ nữ tứ đức tam tòng bây giờ không ai thưởng thức nỗi đâu, trừ mấy ông đồ già. Đàn bà bây giờ phải điêu một tí, quyền biến một tí thì mới giữ được chân chồng!”… Chị vẫn để ngoài tai, miệt mài thân cò làm lụng buôn bán lanh lẹ xoay xở chăm chăm một nách hai con nhỏ, kiếm tiền nuôi chồng ăn học, thậm chí còn trải lòng giúp đỡ cưu mang tận tình từng đứa em chồng...

Tốt nghiệp đại học, anh về…Làm việc ở Nha Trang một thời gian, dính vào chuyện vượt biên, vướng vòng lao lý. Chị lại tất tả thăm nuôi, nhờ mẹ tôi cậy nhờ những người quen biết lo chuyện lao tù cho anh. Lúc vào trại thăm, mới biết không phải chị là người đàn bà duy nhất thăm nuôi anh ! Và chuyến vượt biên mà anh tham gia, thực ra cũng là chuẩn bị đi cùng với một người phụ nữ khác! Ai nói ra vào, chị gạt phăng tất cả. Với chị, chồng hiển nhiên là Thượng Đế rồi! Tiền bạc chị làm hầu như bị ngốn sạch bởi những nguồn lo từ chuyến vượt biên cho anh đến chuyện chạy vạy để anh mãn án nhanh, những sinh hoạt chi tiêu có cả họ hàng nhà chồng, rồi cơ quan chị làm thay đổi cơ cấu nhân sự… tất cả dẫn đến chuyện làm ăn của chị hoàn toàn gãy đổ. Ngày anh ra tù, mất việc, rồi chuyện sĩ diện, chuyện mưu sinh..v..v.. chị lại phải chạy vạy gom góp tận cùng vốn liếng cho chồng lập nghiệp. Và anh đã bỏ chị cùng hai đứa con, để đi vào SG sống với người phụ nữ khác.

Ngôi nhà nhỏ của hai vợ chồng chẳng thể nào giữ được, đành phải bán đi để trả bớt nợ nần. Không chồng, không tiền, không nhà, chỉ còn hai đứa con non dại... Chị đem con về lại nhà mẹ, rồi xoay sang buôn mì lát chuyến. Những năm đói khổ ấy, mì lát là mặt hàng có giá. Chị phải đi ròng rã vào những nương rẫy sâu, thu mua hàng xong thuê chở trên những cộ bò, rồi gom lại đóng hàng đi SG bán theo từng chuyến. Một mình lặn lội, có lần suýt bị hiếp ngay giữa rẫy rừng xa. Nên sau, chị phải rủ thêm một cậu em họ cùng đi buôn chung cho có chị có em. Những tháng ngày lau nước mắt nghẹn nỗi nhớ thương chồng cùng với cảm giác bị bỏ rơi, phản bội, nỗi cay cực ôm con nhỏ, đổ mồ hôi trên những rẫy nương, kiếm lại từng đồng bạc mà ngày xưa vì chồng, chị đã trang trải mọi chi phí không chút tính suy… Rất nhiều lần, theo xe mì về trong đêm, không dám gọi cửa vì sợ mẹ và các em thức giấc, chị lặng lẽ xuống nhà tôi, nằm ngủ yên lặng sau chái bếp. Khi tôi mỗi sớm mai mở cửa sau nhà, luôn bất ngờ thấy chị nằm đó, trên chiếc giường tre nhỏ, khoanh tròn như một con mèo, ngủ say mà mắt vẫn còn nguyên ngấn lệ.. Điều kinh ngạc là dù trải bao khổ lụy, đòn Tình, đòn Đời quất tan nát, người đàn bà ấy vẫn giữ nụ cười và kiên trì sống vững. Tôi biết, ẩn sau những nhục nhằn ấy, chị vẫn còn nguyện vẹn tình yêu với chồng và một khao khát tin rằng mái ấm gia đình của chị không hề mất, rồi sau gia đình sẽ đoàn tụ lại thôi ! Niềm tin ấy như ngọn lửa giữ ấm trái tim, cho chị sức mạnh để chịu đựng mạnh mẽ vượt mọi khổ nhục dày vò. Nhưng thời gian cứ lạnh lùng trôi, và một cuộc chạm mặt của hai vợ chồng ở đất lạ Sài Gòn trong một buổi chiều nơi quán nhỏ, đã làm tan niềm hy vọng về một tình yêu, sự tha thứ, cuộc chiến dành lại người cha cho hai đứa con nhỏ của mình!. Về lại Ninh Hòa, nằm khóc vùi, rồi quyết định bỏ xứ mà đi.

Chị tìm vào Lâm San, cận Bình Giã, địa danh với những trận đánh khốc liệt đã từng đi vào dòng nhạc phản chiến… Sau 75, nơi đây nhanh chóng trở thành vùng kinh tế mới, điểm tụ họp của tất cả dân giang hồ tứ chiến tìm về đây níu lại sinh lộ cho mình. Vì chuyện học hành của con, chị gửi lại 2 đứa bé cho ngoại nuôi… Lúc đó làm gì có điện thoại di động, điện thoại bàn cũng rất hiếm hoi. Liên lạc nhau cũng chỉ qua thư viết. Mà những vùng đất mới thì chuyện bưu thư hầu như rất họa hoằn. Nên rời xa quê là xem như vạn dặm quan hà ! Một mình, chưa đến nửa đời xuân sắc, trái tim tan nát tìm đất sống nơi vùng đất vẫn còn nguyên vẻ hoang dại dữ dội của nó. Hàng đêm trong gió rít qua lũng vắng, thỉnh thoảng vang tiếng xích sắt đánh người, để sáng ra, nhiều đám ruộng, đám rau bị quần nát mà ai đi qua cũng chẳng dám nhìn. Tiếng đập cửa la làng, tiếng rượt đuổi nhau hàng đêm. Chị bám sống ở đó, bởi không còn có đất mà đi. Mở một hàng tạp hóa nhỏ, bán lặt vặt qua ngày.Trong nỗi nhớ của chị, giờ đây còn tha thiết đớn đau nỗi nhớ thương con, nhớ xứ quê Ninh Hòa…Sau, chị nói với tôi ”Ngày nào cũng nghe toàn tiếng lạ, Quảng, Huế, Nghệ An, miền Tây… thèm nghe tiếng Ninh Hòa cất lên cho có chút ấm lòng. Đi xa khắp nơi, tiếp xúc nhiều vùng miền, mới thấy người Ninh Hòa mình là hiền lành, chân tình, mộc mạc hơn cả …”. Nhiều năm trôi nổi xa quê, nghe chung quanh chỉ rặt tiếng người vùng khác, nhớ chất giọng Ninh Hòa  thô mộc mà muốn rơi nước mắt… Cứ mỗi lần có việc, lên chuyến xe đường dài nào, chị cũng trông mong, giữa những tiếng chuyện trò, kêu gọi nói cười líu lo mọi vùng miền, có âm thanh bản ngữ Ninh Hòa nào bật thốt lên, để thấy lòng run lên chút sung sướng êm đềm…

Từ nhiều người quen đi buôn hàng chuyến, những tin tức về cuộc sống mới của người chồng mà chị vẫn đợi trông, dần dần rõ ràng đầy đủ hơn. Khi đứa con gái lớn của hai người học xong mười hai, anh có tìm về, để ngầm đem con vào SG lo chuyện cho con học tiếp. Nhưng chị thì chẳng thể chấp nhận cảnh sống của một người vợ chính, đã bị phụ bạc, giờ lại sống ngoan hiền chờ chồng thỉnh thoảng về thăm! Tấm lòng độ lượng của chị cũng không cho phép chuyện lùng sục đánh ghen hoặc tìm cách phá đi hạnh phúc cái gia đình mới mà anh cũng đã nhiều năm vun đắp. Thêm một lần nữa, tắt ngấm hết chút hy vọng vẫn còn le lói tận sâu thẳm trong hồn mà chị vẫn cố duy trì để cho mình thêm vững sống. Niềm tin về sum họp và đoàn tụ trong một mái gia đình hoàn toàn là không thể !  

Chị tìm một người bạn đời mới, bỏ lại Lâm San, quyết định đi xa hơn nữa, lập nghiệp nơi xứ khác. Bước chân lưu lạc của một người Ninh Hòa lại tiếp tục lên đường. Đó cũng là những năm nửa sau thập niên 90, giá tiêu, giá café tăng vọt trên thị trường xuất khẩu… Từ DakLak, vượt hơn 80 cây số, qua những đồi thông bạt ngàn mới đến chợ 82, vùng đất mới Ea H’leo, lại vượt tiếp hơn chục cây số đường dài vàng rực hoa dã quỳ, ngập bụi đỏ và sương lạnh mờ mới đến Ea Hiao. Dân tứ xứ đổ về đây lập lán trại tìm nguồn sống mới từ cây café. Trong giai đoạn đầu thời mở đất, nơi đây hầu như vẫn còn nguyên luật sống khắc nghiệt sơ khai ! Có những ngày cuối năm lạnh buốt tê, sương như vón lại từng cục trên cành cây kẻ lá, vậy mà không hiểu vì những hiềm khích ngấm ngầm nào, trong từng cơn gió rừng ngút ngàn hú len qua khe cửa, hai phía con lộ đất đỏ chạy dài, một bên là người xứ Quảng, bên kia là người Thanh Hóa, Nghệ An, tay giương cung nỏ, tay bạt đao, lưng tựa vào các vách nhà gỗ, trợn mắt hầm hè thủ thế đối đầu nhau! Đó là chưa kể đến những phản ứng gay gắt bất ngờ không đoán trước của các tộc người thiểu số trong một thời khởi loạn Tây Nguyên! Giữa bạt ngàn núi rừng trùng điệp, có thể nói, những giao thừa độc đáo như thế không thể nào tìm thấy được ở đâu ngoài nơi đây! Và ngay giữa những xung động hiểm nguy đó, từ người dân tộc miền núi đến những dân tứ xứ Nam Định, Thanh Hóa, Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, ở họ còn có đồng lân đồng quê nương tựa trợ giúp nhau... Duy nhất chỉ có một mình chị là người Ninh Hòa ! Chị tôi - một người đàn bà cao chưa quá 1.50m - một người Ninh Hòa duy nhất, nói tiếng Ninh Hòa, vẫn tự tin trụ vững.

Từ một người hoàn toàn không hề biết chút gì về trồng café, làm cỏ, phun thuốc, kỹ thuật cắt cành...ngay cả những thao tác kéo ống nước tưới ..vv.. Chị học lại từ đầu. Cái cô học trò giỏi toán lẫn văn của trường Bán Công xưa, cô nữ sinh La San mơ mộng xưa, và cả cuộc đời tan vỡ bởi từ một cuộc tình mình chọn lựa, hy sinh… vẫn cứ giữ nguyên sức sống mạnh mẽ tiềm tàng, giữ nguyên tiếng cười nhân hậu, sự chân tình, và nơi vùng đất mới này - từ đất đến người, đã hoàn toàn thu nhận, quí yêu chị. Chị bảo “Đó là nhờ cái chất Ninh Hòa của mình”, chị cười với tôi như thế. Tôi lại đùa với chị “Phải gọi là Ninh Hòa bản địa mới đúng”. Bên cạnh đó, một điều chị không nói ra nhưng rất quan trọng tạo nên sức sống nơi chị là niềm tin yêu vào người bạn đời, nói như Nguyễn Bính - Chị tôi lòng ấm lại rồi/ Mối tình chết đã có người hồi sinh...(Lỡ bước sang ngang).

Giờ đây, giữa rừng café bạt ngàn xanh mượt, có ngôi nhà cho chị vững bước đi về, có tiếng cười con cái ấm áp đỡ đần. Có một chút tiếng quê Ninh Hòa mộc mạc “phia, dìa, dị..”pha trộn chất Huế “ni, mô, răng, rứa..” trong tiếng nói của con trai…

Giữa tháng Chạp này, ngày giỗ má, chị lại về. Chị về như đem theo cả hương hoa café trắng ngát thơm ngọt lừng lựng núi đồi. Trong không gian hây hây mùi Tết, đàng sau mái tóc pha sương, nguyên nụ cười nhân hậu là hồn quê là sức mạnh rất riêng của Ninh Hòa - mà những ai từng lưu lạc đất khách quê người, sống nơi đầu sóng ngọn gió, mới hiểu được vì sao người Ninh Hòa mình lúc bình thường hiền lành, nhu mì đến thế, nhưng gặp bất kỳ nghịch cảnh nào cũng vẫn vững vàng đối đầu và mạnh bước ! Có gì đâu, bởi đó là Ninh Hòa bản địa, có phải thế không, chị ơi – người Ninh Hòa của tôi ơi ?...

Độ Ngạn

 

 

Mọi thông tin về Website xin gởi đến : webmaster@ninhhoatoday.net

ninhhoatoday@yahoo.com