QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC VĂN                      Mục lục văn theo tác giả

 

TRANG VĂN

 

Bài Cùng tác giả

 

- Sông Dinh qua thi ca (kỳ 6)

- Sông Dinh qua thi ca (kỳ 5)

- Le coeur a ses raisons

- Sông Dinh qua thi ca (kỳ 4)

- Sông Dinh qua thi ca (kỳ 3)

- Sông Dinh qua thi ca (kỳ 2)

- Sông Dinh qua thi ca (kỳ 1)

- Tản mạn nhân mùa Phật đản

- Cây trôm đình Phú Thuận

- Những nỗi niềm mang tên "Sách"

- "Đoản khúc" Thu

- Ca sĩ Tấn Sơn và chút duyên nợ với nhạc sĩ Phạm Duy

- Vĩnh biệt nhạc sĩ Phạm Duy !

- End of the...

- Như một lời chia tay

- Tiếng chim biển thánh thót giữa trời Nam

- Mùa xuân sang thênh thang phố vui

- Những tiếng hát yêu "Ơi con sông Dinh"

- Ngày xuân lên đỉnh Langbiang (kỳ 1)

- Đêm ở Tiếng Xưa

- Tản mạn về việc trùng tu lăng Bà Vú (kỳ 3)

- Tản mạn về việc trùng tu lăng Bà Vú (kỳ 2)

- Tản mạn về việc trùng tu lăng Bà Vú (kỳ 1)

- Tản mạn quanh Trịnh Công Sơn (kỳ 2)

- Tản mạn quanh Trịnh Công Sơn (kỳ 1)

- 30 phút cuối với thầy Cao Đình Đãi

- Những ngày Trăng sáng

- Quy Nhơn du ký (kỳ 3)

- Quy Nhơn du ký (kỳ 2)

- Quy Nhơn du ký (kỳ 1)

- Đi cùng "Năm tháng ngược xuôi" với Trần Chánh Nghĩa

- Người đàn bà phía sau

- Viếng GS Tiến sĩ Dương Thiệu Tống

- Nỗi nhớ mùa đông và Thiên Thần của tôi

- Trở Lại (kỳ 3)

- Trở Lại (kỳ 2)

- Trở Lại (kỳ 1)

 

 

 

SÔNG DINH QUA THI CA

Dương Tấn Long

(KỲ 6)

CẦU DINH (1)

Trên sông Dinh có hai cây cầu quan trọng đối với người Ninh Hòa, không những ở công năng mà còn ở tính văn hóa, đó là cầu Dinh và cầu Sắt. Nói về sông Dinh mà không nói tới hai cây cầu này là điều thiếu sót lớn.

Đã là người Ninh Hòa không ai không một lần đi qua cầu Dinh. Cây cầu huyết mạch, nối liền đường bộ, vượt qua sông Dinh, nằm ở trung tâm thị trấn Ninh Hòa. Cầu Dinh gần chợ Dinh (chợ Ninh Hòa), bên kia là Vĩnh Phú. Nơi đây hàng ngày, người xe tấp nập qua lại, đi về khắp nơi hoặc vào chợ Dinh mua sắm, giao thương.

Ai về Ninh Hòa quê tôi
Cầu Dinh phơi phới nằm phơi nắng đào
Dòng sông chở nặng ca dao

(Ninh Hòa quê tôi - Nguyễn Tường Hoài)

Bình thường nếu phải giới thiệu về cầu Dinh, bao nhiêu lời đó là đủ, nhưng với bài này, có một số chuyện về cầu Dinh rất lý thú, đáng nói, cần bàn sâu hơn.

Có sông rồi sau đó có cầu là chuyện tất nhiên, nhưng Quan Dương thích nhắc lại và lý giải đơn giản như đang giỡn: “...Con sông Dinh có tự bao giờ? Không ai biết. Nhưng chiếc cầu thì chắc chắn phải có sau con sông. Nói chính xác hơn là bởi vì có con sông nên mới có chiếc cầu..”. Không sai tí nào.! Một định lý tuyệt vời ! dựa vào “định lý Quan Dương” tôi cũng nhắm mắt tuyên bố một cách hùng hồn và chắc nịch rằng : - Tất cả mọi chiếc cầu trên hành tinh này đều có sau con sông.!!. Đùa một tí, thế nhưng khi đặt ngược vấn đề và đi sâu hơn thì mọi việc không còn là chuyện đùa và đơn giản nữa. Tôi nói rằng : - con sông Dinh có sau cầu Dinh.!?. Nghe điều này chắc hẳn nhiều người thấy lạ và nghịch lý. Để sáng tỏ sự việc, chúng ta thử lội ngược dòng thời gian, ngược dòng suy nghĩ và lịch sử mù mờ của Ninh Hòa, qua đó tìm hiểu xem cầu Dinh ra đời từ khi nào và tại sao cầu Dinh có trước sông Dinh.

- Năm Quý Tỵ (1653) vua Chiêm Thành đem quân cướp phá đất Phú Yên. Chúa Nguyễn Phúc Tần cử Hùng Lộc đem quân vào đánh dẹp, quân Chiêm đại bại xin hàng. Chúa Nguyễn dành một phần đất cho vua Chiêm từ Phiên Lang (Phan Rang) trở vào, phần còn lại trở ra Phú Yên thì chiếm cứ và lập làm 2 phủ là Diên Ninh và Thái Khang. Phủ Diên Ninh bao gồm Diên Khánh và các vùng xung quanh còn Thái Khang là vùng đất còn lại trong đó có Ninh Hòa. Dinh trấn thủ được xây dựng ở Thái Khang (vùng Ninh Hòa). Như vậy sau khi bình định vùng đất, dù sơ khai, việc tổ chức bộ máy hành chánh, vấn đề an dân, giao thông đi lại.v.v.tất yếu phải được hình thành, ít lắm là khu vực quanh Dinh và các vùng phụ cận. Trong đó việc làm một cây cầu để vượt qua sông, nối tiếp con đường cái quan, nằm cạnh Dinh Thái Khang là vô cùng cấp thiết. Chỉ có binh hùng tướng mạnh của một chính thể mới có khả năng thực hiện điều này. Cây cầu cần để điều động binh lính tiếp ứng vùng đất Diên Ninh phía nam, điều hành xã hội, cho người dân đi lại làm ăn, mở mang bờ cõi... Cho nên cư dân địa phương, những người đi mở đất, tập họp, sinh sống các khu vực quanh dinh, xây nhà, lập chợ (chợ Dinh), được cơ hội lui tới, qua lại cây cầu bên cạnh dinh Thái Khang, gọi cây cầu là “cầu Dinh” cho dễ hiều. Điều này chắc chắn được chấp nhận ngay từ đầu, vì nơi đó không có biểu tượng quyền lực nào cao hơn dinh của quan trấn thủ. Cầu Dinh thực sự hình thành và có tên lưu truyền từ đó. Tôi nghĩ rằng cây cầu được hình thành sau khi có Dinh Thái Khang không quá 3 năm.

Như vậy cầu Dinh ra đời và chính thức có tên vào khoảng 1655 - 1657. Còn nói vì sao sông Dinh có sau cầu Dinh chẳng qua là vấn đề được nhìn theo cách khác. Tôi chẳng dám phủ nhận “định lý Quan Dương” mà ý nói - tên “sông Dinh” có sau tên “cầu Dinh”. Vì rằng sông Dinh trước đó có tên là sông Vĩnh Phú (còn có tên Vĩnh Hòa, Vĩnh An). Khi có dinh trấn thủ, có cầu Dinh, người dân đi lại trên cầu, xuôi ngược trên sông, dần dần tập gọi tên “sông Dinh”. Những người đã biết tên sông trước đó thì cứ gọi sông Vĩnh Phú. Người chưa biết thì ấp a, ấp úng - “... sông ấy à... sông qua dinh trấn thủ đấy chứ gì.... ờ - thì cứ gọi sông Dinh cho rồi !..” và lâu dần chữ “Dinh” ngắn gọn, dễ gọi, thay thế chữ Vĩnh Phú. Tôi nghĩ rằng dân gian thì gọi là sông Dinh, còn quan quân chúa Nguyễn cứ phải kêu là sông Vĩnh Phú vì đó là kiểu của địa chí, của câu chữ triều đình. Cho nên tên “sông Dinh” phải rất lâu về sau mới chính thức được công nhận và có sau tên “cầu Dinh” là vậy. Tuy nhiên tên “sông Dinh” phải có trước khi dinh trấn thủ dời vào thành Diên Khánh, vì nếu dinh dời đi rồi thì còn đâu hình tượng nữa mà đặt tên. (Năm Nhâm Tuất 1742 chúa Nguyễn Phúc Khoát đổi tên Diên Ninh thành Diên Khánh. Vì thấy địa thế tốt nên dời dinh vào đấy).

Thế còn cầu Dinh lúc ấy làm bằng gì? Dáng hình ra sao ? cũng là điều đáng nói. Chắc chẳng khó khăn lắm để tìm hiểu điều này vì thời ấy có vật liệu nào khác hơn để làm cầu ngoài cây, gỗ. Cầu không cao, không rộng, nhưng phải cao hơn mực nước lụt cao nhất trong năm và rộng cho người ngựa, xa giá qua được là đủ. Cầu rộng chừng 2 mét, dài khoảng 90m, không có lan can. Cầu được kết hợp giữa gỗ và tre - gỗ dùng cho chân trụ và dầm, lớp lát mặt thì bằng tre già. Gỗ của Ninh Hòa lúc ấy tìm thật dễ dàng, chỉ cần ngược về Quang Đông hoặc xa chút nữa là Văn Định (ổ gà), núi rừng dày đặc, cách Dinh chừng cây số. Tre thì bạt ngàn tại chỗ, cứ đi dọc sông Dinh lựa là có sẵn. Tuy nhiên khối lượng công việc rất lớn, không thể làm kiểu “cầu ván đóng đinh, cầu tre lắc lẻo...” mà phải có tính kiên cố nhất định. Có thấy nước sông Dinh cuồn cuộn chảy vào mùa bão lụt thì mới hiểu cầu Dinh bằng gỗ khi ấy phải mạnh mẽ cỡ nào mới đứng vững được. Ta còn nhớ người lính thú đời xưa trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư, qua “ba năm trấn thủ lưu đồn”, đi làm những việc như làm cầu Dinh đã phải than thở: “... chém tre đẵn gỗ trên ngàn, hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai”. Tuy hao tốn công sức như vậy nhưng cầu gỗ mau hư hỏng, niên hạn khoảng năm, ba năm phải tu sửa. Chắc chắn nhiều năm thìn và nhiều ngày hăm ba tháng mười nào đó, cầu đã bị nước lũ sông Dinh tàn phá, cuốn trôi, khiến phải nhiều lần làm lại. Mặc dầu khó khăn, chật vật, cầu Dinh bằng gỗ đã nhiều đời trơ gan cùng tuế nguyệt, chịu gian khó suốt hơn 250 năm.

Kỹ thuật beton cốt thép ứng dụng cho việc xây dựng công trình ở các nước Châu Âu bắt đầu cuối thế kỷ 19 và du nhập vào Việt Nam đầu thế kỷ 20, nhưng cầu beton cốt thép phải đợi thực dân Pháp thực hiện việc “làm thịt” thuộc địa, bằng cách nâng cấp con đường cái quan thành quốc lộ số 1 với mặt đường tráng nhựa, mở rộng, chạy dọc theo chiều dài đất nước. Những chiếc cầu beton kèm theo, xuất hiện trên các con sông VN, trong đó có chiếc cầu Dinh qua vùng đất Ninh Hòa chúng ta. Đó là những năm 1925. Tuy tiến bộ hơn cầu bằng gỗ nhưng nó là thế hệ thứ nhất của những chiếc cầu beton nên kỹ thuật vẫn thô sơ và việc xây dựng ì ạch, khó khăn không kém gì cha ông ta làm cầu gỗ trước đó. Tuy vậy, sự xuất hiện của con đường mới là một bước ngoặc to lớn trên lãnh vực giao thông công chánh của Việt Nam ta sau mấy ngàn năm văn hiến!.!

Sự thay đổi đó khởi đầu rất gian nan với nhiều mồ hôi, công sức và cả sinh mệnh của những người bản xứ. Đã tạo ra một lực lượng lao động mới mang tên “phu lục lộ” mà chúng ta đã nghe nhiều nỗi thống khổ của họ dưới ách thống trị của thực dân. Bỏ qua chính kiến để nói mặt khác của vấn đề thì Ninh Hòa chúng ta cũng được ăn theo nền văn minh phương Tây. Có một con đường tráng nhựa và một cây cầu kiên cố, khang trang hơn thời kỳ lạc hậu trước đó.v.v. thế là một thị tứ bám theo cây cầu sinh sôi, phát triển. Ninh Hòa đã cởi bỏ chiếc áo the thâm mang suốt hơn 250 năm và khoác lên chiếc áo veston mới lạ!.

Nhớ về chiếc cầu này ta thấy Đường Du Hào viết trong “Tuổi mười ba”:-“ Cầu Dinh, chiếc cầu nối liền xóm Vĩnh Phú với phố Ninh Hòa, còn thô sơ và chất hẹp, bề ngang cây cầu rộng vừa đủ vỏn vẹn cho một chiếc xe hàng loại Renualt cũ qua lại một chiều“. Tôi thì nhớ cầu Dinh beton thời ấy dáng hình mỏng manh, không rộng, lòng cầu chừng 3m, hai bên có lối đi bộ chừng 1m, đủ để một chiếc xe 4 bánh và một chiếc xe hai bánh tránh nhau. Trên cầu có một chòi canh để điều hành xe qua lại, vì xe lớn chỉ chạy được một chiều nên bên này qua cầu thì bên kia nhận hiệu lệnh phải ngừng chờ đến lượt (cầu Xóm Bóng ở Nha Trang cũng hẹp như vậy, nhưng vì cầu quá dài nên cứ vài nhịp có đoạn mở rộng để tránh xe). Được biết, trước thập niên 60, xe cộ không nhiều, việc qua lại cầu không phải chờ đợi.

Rõ là người Pháp nghĩ rằng qui mô cây cầu như vậy là quá đủ, họ không dự đoán (cũng chẳng cần phải lo xa) được xã hội phát triển. Cầu được sử dụng tích cực, các phương tiện giao thông ngày càng nhiều, nhất là thời kỳ chiến tranh VN gần đến cao điểm, xe quân sự qua lại không ngớt, khi có những đoàn convoy nặng nề, gần cả trăm chiếc chạy qua, luôn là nỗi lo ngại cho chiếc cầu ốm yếu. Cho đến một ngày năm 1965 - một nhịp cầu cùng chiếc xe tải chở đá xây dựng của ông D rơi tòm xuống sông, gây nên cái chết thương tâm. Sau đó là một chàng tài xế Mỹ đen, đã quá yêu mến dòng sông, đưa nguyên chiếc xe nhà binh to tướng, lao thẳng xuống thăm “bà thủy”, chỏng 4 bánh dưới cầu. Những sự kiện trên báo hiệu cho giờ phút chấm dứt sứ mệnh lịch sử của chiếc cầu beton đơn sơ đầu đời ấy. Dù người ta cố gắng duy trì, cứu chữa bằng cách đóng ghép vào nơi gãy đổ những dầm sắt, gỗ sử dụng tạm, nhưng nó cũng chỉ sống lây lất, không lâu. Tưởng cũng nên nhắc lại vào năm 1954, những ngày tháng cuối cùng của cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp. Việt Minh sau khi tấn công vào nhà lao ông Corse (chi thông tin cũ) bất thành, trên đường rút lui đã “dằn mặt” thực dân Pháp bằng cách gởi tặng cầu Dinh một quả mìn, tiếng nổ vang dội trời đêm, rúng động cả thị trấn Ninh Hòa.

Cầu gãy một nhịp phía bên Vĩnh Phú. Quả mìn đã làm lung lay ý chí quân Pháp ở Ninh Hòa, nhưng cũng góp phần làm thương tổn và giảm tuổi thọ chiếc cầu không ít. Thương tiếc cho cây cầu yểu mệnh ở tuổi trung niên vì chịu quá nhiều biến cố và dâu bể, nó tồn tại khoảng 40 năm!. (cũng nên nói thêm về tính thô sơ của kỹ thuật beton cốt thép thời đó, vì với tiêu chuẩn niên hạn thì kết cấu beton cốt thép là kết cấu bền vững, có tuổi thọ trên 80 năm, những vật liệu tạo thành beton như : ciment, cốt thép thời đó cường độ không cao, đá thì không có loại đá dăm được chế biến từ những máy nghiền như kiểu của hãng thầu RMK của Mỹ nằm ở đèo Rù Rì, chỉ lấy từ thiên nhiên rồi sàn lọc bằng thủ công ở đầu nguồn các sông, viên đá tròn, láng nhưng chất lượng không đồng nhất, độ bám dính vào kết cấu không cao, dễ bong tróc nên sắt thép mau rỉ sét, công trình nhanh xuống cấp nếu không được bảo quản tốt ).

Cầu cũ đã suy tàn, không còn khả năng đáp ứng được số lượng người xe và trọng tải nên phải phá bỏ để làm chiếc cầu mới rộng hơn, mạnh mẽ hơn. Thế nhưng Ninh Hòa khi đó chỉ có cây cầu Dinh là duy nhất nối quốc lộ 1. Nếu tháo bỏ cầu cũ để làm cầu mới thì xe cộ vào Nam ra Bắc khi qua Ninh Hòa trong thời gian ấy phải chạy đường nào?! đó là vấn đề nan giải!. Nhưng rồi một tuyến đường tạm được thiết lập theo lộ trình : Từ Vĩnh Phú, xe chạy theo hướng Quang Đông , đến gần cầu Sắt, làm một cây cầu song song, qua bờ bên kia chạy dọc theo đường ray, cạnh chùa Tổ (Thiên Bửu hạ) một đoạn rồi quẹo trái về hướng xóm Cầu Gỗ, chạy bọc ra hạt Kiểm Lâm và đáp vào quốc lộ 21 (hiện là QL26), trước trường Bán Công, gần sông vận động. Tuyến đường ấy được xây dựng một cách nhanh chóng, do lực lượng công binh Mỹ thực hiện. Con đường tạm bằng đất đỏ được những chiếc xe chuyên dụng, hình dáng cồng kềnh như con bọ ngựa với chiếc bánh xe khổng lồ, vừa đổ đất, vừa san ủi, xe chạy bụi đỏ bốc lên mù trời. Chiếc cầu vững chắc với những trụ bằng cây gỗ thông dài, ngay thẳng, đường kính không dưới 3 tấc, được tẩm dầu chống mục, có xuất xứ tận Mỹ quốc, trụ được đóng bằng búa máy sâu xuống đất của lòng sông, lớp gỗ lát mặt cầu cũng bằng gỗ xẻ tẩm dầu rất dày và cứng cáp. Rõ là cầu gỗ của cha ông ta không thể nào sánh bằng !. Chiếc cầu tuy đen đúa nhưng đủ khả năng gánh chịu tất cả các loại xe lúc ấy, kể cả các xe quân sự to lớn ngày đêm qua lại ầm ầm.

Những chiếc trụ cầu bằng gỗ tồn tại sau nhiều năm, nằm lô nhô bên cạnh cầu Sắt

Dù sứ mệnh của chiếc cầu và con đường được đặt ra không cao, nhưng không ai cấm cản nó “sống dai” khi cầu Dinh mới đã xây dựng xong. Tuyến đường tạm này đã tồn tại một thời gian dài hơn 10 năm. Khi cầu gỗ bị hư mục, xụp đổ thì việc sử dụng tuyến đường này mới thực sự chấm đứt, trả lại sự thâm nghiêm, tĩnh lặng cho khu vực. “Xương thịt” của cây cầu như là một gia tài vô chủ, đã giúp đỡ cho một số người nghèo khó trong vùng làm củi hoặc việc gia dụng, trong giai đoạn khó khăn của đất nước .!.!. Những phế tích của con đường này sau gần 40 năm vẫn có thể dễ dàng tìm thấy. Tinh ý, nhìn kỹ vào những tấm hình cầu Sắt, ta thấy những trụ gỗ cầu màu đen còn sót lại lô nhô bên cạnh cầu Sắt. Ai có dịp ghé thăm chùa Tổ, bước lên đường ray xe lửa trước chùa, nhìn xóm bên kia đường sẽ thấy rõ “lối xưa xe ngựa hồn thu thảo”. Nó đã để lại trong lòng người Ninh Hòa, sống trong giai đoạn ấy những hình ảnh kỷ niệm đáng nhớ của một thời thơ trẻ và ly loạn, những người hiện nay đã ở tuổi trên 50. 

Dương Tấn Long

(Đón xem tiếp kỳ 7)